Cây lúa gieo từ hạt thóc 3.000 năm đã trổ bông

By nguyenuyenthu

Bốn cây lúa đầu tiên gieo từ những hạt thóc phát lộ ở tầng văn hóa Đồng Đậu cách nay 3.000 năm đã đồng loạt trổ bông. VnExpress ghi lại hình ảnh ngày 30/7.
>
Cấy hạt thóc 3.000 năm / Giới khoa học xôn xao vì hạt thóc 3.000 tuổi nảy mầm

Bốn cây lúa được gieo cấy tại Viện Di truyền Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) ngày 5/5 đã đồng loạt trổ bông.
Đây là những cây thuộc lứa đầu tiên trong số những hạt thóc 3.000 năm phát lộ từ khu di chỉ Thành Dền (Mê Linh Hà Nội).
Theo các cán bộ tại Viện Di truyền Nông nghiệp trước đó hơn 10 ngày những cây lúa này đã làm đòng.
Về hình thái những cây lúa này không có nhiều khác biệt với lúa hiện đại ngoài việc thân khỏe lá khá to bản và mọc đứng hơn.
Hoa lúa.
Trong khi đó 6 hạt lúa được gieo sau bốn cây lúa trên một tuần hiện vẫn chưa có dấu hiệu làm đòng.
Các cây lúa cổ này được cán bộ Viện Di truyền Nông nghiệp chăm sóc hằng ngày. Trong khi đó mẫu vỏ trấu của chúng được gửi đi Nhật Bản vẫn chưa có kết quả giám định niên đại.

Nguyễn Hưng
(vnexpress.net/ 30.7.2010)




More...

Đến với tác phẩm "Dấu chân trên cát". Lê Thị Mai

By nguyenuyenthu

ĐẾN VỚI TÁC PHẨM
"DẤU CHÂN TRÊN CÁT"

LÊ THỊ MAI[1]

Từ khi ngồi trên ghế trường đại học Ai Cập cổ đại đã thu hút chúng tôi với mãnh lực của sự "huyền bí" [2]. Một trong những cái nôi văn minh cổ xưa nhất của loài người ấy ghi dấu ấn không phai mờ trong chúng tôi là các kim tự tháp đồ sộ hùng vĩ độc đáo trên sa mạc mênh mông là tục ướp xác kỳ lạ các tác phẩm điêu khắc là tuyệt tác của nhân loại. Song điều làm tôi đặc biệt ấn tượng say mê ở Ai Cập cổ đại là cuộc cải cách tôn giáo có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử thế giới cổ đại[3]. Ngày ấy chúng tôi không có tài liệu nào cung cấp những hiểu biết cơ bản về cuộc cải cách này hơn những lời thầy tôi giảng ở lớp và cuốn giáo trình Lịch sử cổ đại phương Đông của thầy Chiêm Tế trong chưa đầy hai trang sách. Tôi ao ước tìm kiếm thêm nguồn tài liệu bổ khuyết cho vấn đề ấy.
Một ngày cuối hạ năm 2010 tôi nhìn thấy cuốn "Dấu chân trên cát"[4] đặt trên giá sách lịch sử trong nhà sách Phú Xuân Huế. Tiêu đề không có gì là sử liếc nhìn bìa sách "một dãy dấu chân in trên cát trắng mịn màng" lại do Nguyên Phong phóng tác - Rõ ràng là một cuốn sách văn học nhưng tại sao nó lại được đặt trên giá lịch sử? Nhìn kỹ mới thấy một dòng ghi chú bên dưới tên sách màu đỏ đề Theo The Egyptian của Mika Waltari. Người Ai Cập à? Tò mò quá!
Lật trang sách mắt tôi dán vào những dòng đầu tiên dù tiểu sử tác giả nằm ngay ở trang bên cạnh: "Tôi tên là Sinuhe câu chuyện tôi kể lại sau đây là chuyện của tôi một người Ai Cập ..." Sinuhe à? Tôi có biết Sinuhe trong Truyện về Sinuhe của văn học Ai Cập cổ đại vốn chỉ được tóm tắt sơ lược trong các sách về văn minh thế giới hay phần văn hóa Ai Cập cổ đại mà thôi. Quả thật đây là Sinuhe của Ai Cập rồi!
Tôi không rời mắt khỏi những dòng văn viết với ý tứ sâu sắc của một người con xa quê hương: "Người Ai Cập có thành ngữ: "Kẻ nào đã uống nước sông Nile thì không thể nào uống nước ở đâu được nữa". Quả thế tuy sống tại Hy Lạp nhưng không bao giờ tôi có thể quên được Ai Cập quê hương thân yêu của tôi. Mặc dù hiện nay được giải khát bằng những loại rượu nho thơm ngon nhất của Hy Lạp nhưng không bao giờ tôi có thể quên được hương vị trong mát ngọt ngào của những bình nước được múc lên từ sông Nile dòng sông mà người Ai Cập thường gọi là "mẹ Nile" một danh từ tràn đầy thương yêu không bút mực nào có thể tả xiết".
Ôi hay tuyệt! Đã tìm kiếm lâu lắm rồi mua được khá nhiều sách nhưng tôi lại chưa bổ sung thêm được một cuốn sách nào về Ai Cập cổ đại cả. Tôi mơ hồ nghĩ rằng mình đang nắm trên tay một nguồn tư liệu quý về lịch sử Ai Cập. Tuy vậy trong thâm tâm tôi vẫn có điều không hài lòng vì dường như nó đã khởi đầu giống một cuốn tiểu thuyết lịch sử[5] hơn là một công trình chuyên khảo. Tạm dừng đọc tôi lui lại xem tiểu sử tác giả[6]: Mika Waltari (1908 - 1979) là một nhà soạn kịch nổi tiếng đã viết hơn 80 kịch bản cho sân khấu kịch Broadway ... Xuất bản năm 1945 The Egyptian là một trong những cuốn sách có số bán rất chạy và đã được tái bản nhiều lần. Tuy là một tiểu thuyết hư cấu (fiction) nhưng tác giả đã xây dựng nó từ những truyền thuyết trong dân gian nên nó vẫn có giá trị trên địa hạt sử liệu và khảo cổ. Điều khẳng định này đã đưa đến quyết định nhanh chóng của tôi là mua ngay để được sở hữu cuốn sách ấy[7]. Hơn thế nữa vì nó còn là tác phẩm "để đời" của tác giả vì "Cho đến nay dù đã soạn hơn 80 vở kịch nổi tiếng nhưng The Egyptian vẫn là cuốn tiểu thuyết đầu tay và duy nhất của ông". Tôi trân trọng tin tưởng lời giới thiệu ngắn gọn nhưng đủ sức thuyết phục ấy.
Một trong những kinh nghiệm tự thân mà tôi cho rằng mình có được từ sau ngày ra trường là mua sách. Và quả thực lần này tôi đã không chọn nhầm sách. Tôi đã từng đọc say sưa "Ba chàng lính ngự lâm" "Ruồi trâu" "Cuốn theo chiều gió" - theo tôi là những "tuyệt tác văn học sử" nhưng chưa bao giờ tôi phấn khích đọc với niềm đam mê rồi lo sợ khi những trang sách còn lại mỏng dần như lần này. Cũng như mọi lần đọc được cuốn sách hay tôi mong muốn có nhiều người nữa cùng đọc nó để cảm nhận đồng cảm và chia sẻ với niềm hạnh phúc của tôi.
Những kiến thức mới mẻ về Ai Cập cổ đại mà cuốn sách đem lại làm tôi tin tưởng rằng từ đây trong bài dạy của mình về cuộc cải cách tôn giáo nói riêng và lịch sử văn hóa Ai Cập nói chung tôi sẽ làm cho ánh mắt học trò sáng rực lên khi được giới thiệu.
Ở đấy tôi tìm thấy những kiến thức mới mẻ về "khoa học của sự sống" và "khoa học của sự chết" của người Ai Cập; về dòng sông Nile với "những đứa trẻ  vô thừa nhận"; về "lời phát nguyện giữ mình trong sạch" trong hôn nhân ...
Nhưng trên tất cả điều để lại dấu ấn đậm nét trong tôi là về con người và sự nghiệp của Ichnaton[8]. Tôi đọc đi đọc lại những đoạn hội thoại của vị Pharaoh này với Sinuhe với các nhân vật dưới quyền của mình; đặc biệt là cuộc đối thoại nghẹt thở giữa Ichnaton với vua Hittites và những việc ông làm cho Ai Cập. Với người dân Ai Cập thì đó là "một Pharaoh khác thường" - người "đã tạo ra nhiều thích thú bất ngờ và mở đầu cho một phong trào cải cách chưa từng có trong lịch sử". Còn tôi thì cảm thấy sáng tỏ vô cùng về cuộc cải cách tôn giáo[9]; về một "pharaoh thi sĩ" và nhất là về tầm nhìn mang tính nhân văn sâu sắc của Ichnaton[10].
Tôi cũng thấy "hiện đại" vô cùng những dòng viết về triết lý giáo dục của Ichnaton:
"Giáo dục là một phần rất quan trọng trong sự phát triển đời sống. Con người nhìn cuộc đời ra sao tùy thuộc rất nhiều ở sự giáo dục của người đó ...Việc khuyến khích các mầm thiện chỉ dẫn những điều tốt để con người biết hướng thượng là điều quan trọng của việc giáo dục".
"Một vị thầy theo đúng nghĩa không phải là người có nhiều kiến thức hay ăn nói lưu loát mà phải là người bạn đồng hành của đứa trẻ dìu dắt nó như một người ngang hàng chứ không dựa vào một uy quyền nào đó để áp đặt" ...
"Một đứa trẻ phải được giáo dục cẩn thận từ nhỏ để nó có đủ sức đương đầu với những thử thách của cuộc đời. Thiếu giáo dục thì đứa trẻ sẽ thua trước khi lâm trận và thiếu hiểu biết thì nó sẽ bị lôi cuốn vào những sa ngã vì những ảnh hưởng xấu xa mà nó không biết phân biệt".
Phần phụ lục của sách về Đại cương lịch sử Ai Cập Chữ viết Ai Cập Các tài liệu khảo cổ Những tên gọi theo nghĩa Ai cập Kim Tự Tháp Ai Cập Thung lũng mộ vua Phế tích Amarna và Những câu hỏi chưa được giải đáp chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử quan trọng. Thú vị nhất là phần "Những tên gọi theo nghĩa Ai cập" trong tác phẩm vì "Người Ai Cập rất chú trọng đến tên gọi danh tính vì việc định danh cho một người là nghi thức rất quan trọng có liên quan đến thế giới bên kia".
Sự sắp đặt bố cục tác phẩm chặt chẽ cốt truyện lôi cuốn với những dòng kết thúc mang tâm trạng buồn man mác: "Mặt trời từ từ lặn. Những tia nắng rơi rớt vương vấn trên các cồn cát sa mạc. Xa xa một con chim lạc lõng bay ..."[11]. Tôi bất chợt nhận ra cánh chim lạc lõng cô đơn ấy chính là Ichnaton là Sinuhe của gần 3500 năm trước nhưng nó cũng là nỗi niềm của những ai mang hoài bão sống khác người khác đời ở hiện tại. Tôi chạnh lòng nghĩ rằng những tư tưởng cải cách mang tính nhân văn dân chủ sâu sắc của Ichnaton đã thất bại ở thời đại của ông không biết đến bao giờ mới trở thành hiện thực .../



[1] Giảng viên khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.

[2] Sự huyền bí là "cái thần" của Ai Cập cổ đại mà thầy dạy Lịch sử thế giới cổ trung đại của chúng tôi định hướng.

[3] Cuộc cải cách tôn giáo do Amenkhotep IV khởi xướng năm 1400 có ảnh hưởng đến tư tưởng nhất thần của các tôn giáo vùng Cận Đông.

[4] Nguyên Phong phóng tác theo "The Egyptian" của Mika Waltari Nhà xuất bản Phương Đông năm 2009 494 trang.

[5] Với loại tư liệu này độ tin cậy tính khoa học chỉ mang tính tương đối cần phải được xử lý cẩn thận. Không chỉ vậy tác phẩm này lại được phóng tác theo bản dịch tiếng Anh không phải theo bản gốc tiếng Phần Lan. Quan điểm tư tưởng của người phóng tác đã được lồng ghép trong tác phẩm là khá rõ ràng.

[6] Sau khi đọc xong sách tôi mới tìm kiếm thông tin về tác giả của cuốn sách ấy. Tôi tìm thấy những dòng giới thiệu về tác giả và tác phẩm trên website http://en.wikipedia.org và biết thêm nhiều thồng tin bổ ích.

[7] Tôi đã nhận định: Giá sách 64.000 đồng cho một cuốn tiểu thuyết lịch sử không dày cũng là điều bất thường hứa hẹn là một tác phẩm hay.

[8] Giáo trình của thầy Chiêm Tế giải thích: khi lên ngôi thực hiện cải cách về mọi mặt Amenkhotep IV đổi tên hiệu cũ của mình để lấy tên hiệu mới là Ichnaton (hay cũng gọi là Akhenaton - có nghĩa là "người được thần Aton ưa chuộng"). Trong tác phẩm này dịch giả gọi là Amennophis - Akhenaten và giải thích: Akhenaten có thể tạm dịch là thuận theo ý trời hay ngôi Thái Dương tượng trưng bằng chiếc đĩa tròn (Aten); chữ Akhen có nghĩa là hoàn toàn dâng hiến; chữ Khen gốc ở bộ chữ Shu còn có nghĩa là ánh sáng hướng dẫn.

[9]Tôi hiểu  vì sao có cải cách tôn giáo của Ichnaton cải cách như thế nào và vì sao cải cách ấy thất bại.

[10] Lớn nhất là tư tưởng: Chiến tranh chỉ là nơi người ta thử độ lợi hại của vũ khí còn đau khổ mất mát chỉ thuộc về nhân dân lao động. Trên thế giới này những kẻ gây chiến tranh không phải vì họ xấu hay làm trái lẽ phải mà chỉ vì họ không đồng ý kiến hoặc quan niệm với nhau mà thôi. Việc duy nhất để giải quyết sự bất đồng ý kiến dị biệt tư tưởng là tình thương. Tình thương đưa đến sự chấp nhận và khi nào con người biết chấp nhận những khác biệt này thì hận thù mới có thể chấm dứt"

[11] Nhưng tác giả cũng ghi chú những dòng đầy lý trí: Sử gia Hérodote  (Herodotus) ghi nhận: Một người Ai Cập tên Sinuhe đến Hy Lạp mở trường dạy học. Ông có rất đông học trò. Sau khi ông qua đời học trò của ông đã góp phần xây dựng Hy Lạp trở nên một quốc gia văn minh hùng cường mà các thế hệ sau này gọi là "thời buổi hoàng kim của các triết gia". Học trờ của ông là Plato Aristotle Socrates Epiete v.v ...


More...

Những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử (2)

By nguyenuyenthu

Hàng nghìn viên đá dựng đứng và nằm thẳng hàng tại Pháp các xác ướp dưới đầm lầy tại châu Âu nằm trong danh sách những bí ẩn lớn nhất trong lịch sử loài người của trang Livescience.

> Phần 1

Bãi đá Carnac tại Pháp

Một phần
Một phần của bãi đá Carnac. Ảnh: wikipedia.org.

Nằm dọc bờ biển Brittany thuộc miền tây bắc nước Pháp bãi đá Carnac gồm hơn 3.000 khối đá dựng đứng to lớn được sắp xếp thành những đường hoàn hảo và trải dài dài hơn 12 km. Truyền thuyết địa phương kể rằng ngày xưa khi một đội quân La Mã đang hành quân thì phù thuỷ Merlin đã biến họ thành đá. Một nhà khoa học nghiên cứu bãi đá đã đưa ra một giải thích hợp lý hơn: Nó có thể là một công cụ dự báo động đất. Ngoài ra không có dấu hiệu cho thấy những người thuộc thời kì đồ đá mới xây dựng bãi đá này.

7. Sự sụp đổ của đế chế Minoa

Một phế tích của đế chế Minoa trên đảo Crete  Hy Lạp. Ảnh:
Một phế tích của đế chế Minoa trên đảo Crete Hy Lạp. Ảnh: tgeyatch.com.

Nền văn minh Minoa bắt đầu trên đảo Crete của Hy Lạp và tồn tại từ thế kỷ 27 tới thế kỷ 15 trước Công nguyên. Mãi tới những năm đầu thế kỷ 20 một nhà khảo cổ người Anh có tên Athur Evans mới phát hiện ra sự tồn tại của nền văn minh này.

Trong khi nguyên nhân sụp đổ của đế chế La Mã đã khá rõ ràng thì sự suy vong của đế chế Minoa vẫn còn là một thách đố. 3.500 năm trước cuộc sống trên đảo Crete đã bị chôn vùi sau một vụ phun trào núi lửa từ đảo Thera gần đó. Những phiến đất sét khai quật được cho thấy đế chế Minoa vẫn tiếp tục tồn tại thêm 50 năm nữa sau khi núi lửa phun rồi mới biến mất vĩnh viễn. Có giả thiết cho rằng tro bụi núi lửa tàn phá mùa màng hoặc sự thống trị của Hy Lạp là nguyên nhân khiến đế chế Minoa lụi tàn.

8. Xác ướp đầm lầy

Một xác ướp dưới đầm lầy tại châu Âu. Ảnh: wired.com.
Một xác ướp dưới đầm lầy tại châu Âu. Ảnh: wired.com.

Hàng trăm tử thi cổ chôn trong các đầm lầy phía bắc châu Âu đã được phát hiện. Các nhà nghiên khoa học cho biết họ nhận thấy có dấu vết tra tấn và phạm tội thời trung cổ. Những vết tích đáng sợ này khiến họ nghi ngờ những người chết là vật hiến tế của một nghi lễ tôn giáo. Livescience cho rằng ngay cả những cảnh sát điều tra hiện trường án mạng giỏi nhất thế giới cũng không thể tìm ra nguyên nhân dẫn đến cái chết của những xác ướp này.

Helike - thành phố bị lãng quên

Một điểm khai quật thuộc thành phố cổ Helike trên đảo Phục sinh. Ảnh: helike.org.
Một điểm khai quật thuộc thành phố cổ Helike trên đảo Phục sinh. Ảnh: helike.org.

Nhà văn người Hy Lạp Pausanias đã miêu tả lại sự kiện một trận động đất phá huỷ cả thành phố Helike chỉ trong một đêm vào năm 373 trước Công nguyên. Một lát sau một cơn sóng thần lại cuốn phăng đi những thứ còn lại của thành phố một thời thịnh vượng này. Helike từng là một trung tâm tôn giáo thờ Poseidon - vị thần cai quản biển cả. Thành phố huyền thoại không để lại chút dấu vết gì và cũng không hề được nhắc đến trong các thư tịch Hy Lạp cổ. Năm 1861 một nhà khảo cổ đã phát hiện được một thứ bị lấy cắp từ Helike. Đó là một đồng xu bằng đồng chạm hình đầu Poseidon đặc trưng. Năm 2001 hai nhà khảo cổ học đã xác định được vị trí tàn tích của Helike bên dưới lớp bùn và đá sỏi ven biển. Hiện tại họ đang nỗ lực khai quật thành phố.

Chữ tượng hình Rongorongo

Một bản khắc chữ tượng hình Rongorongo. Ảnh: wordpress.com.
Một bản khắc chữ tượng hình Rongorongo. Ảnh: wordpress.com.

Được coi như một bí ẩn khác của Đảo Phục Sinh thuộc Chile Rongorongo là loại chữ tượng hình được những cư dân đầu tiên của vùng đất này sử dụng. Trong khi không có một tộc người lân cận nào có chữ viết chữ Rongorongo lại xuất hiện một cách đầy bí ẩn vào thế kỉ 18. Tuy nhiên sau khi bị những thực dân châu Âu đầu tiên cấm đoán vì mối liên hệ với nguồn gốc vô thần của người dân bản địa loại chữ viết này đã bị mai một khiến cho việc giải mã cũng trở nên vô vọng.

Ngọc Thúy
(
vnexpress.net/09.06.2010)



More...

Vài nét sinh hoạt của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XX qua công trình "Kỹ thuật của người An nam" của Henri Oger. Nguyễn Thị Kim Oanh - Trần Thị Hải Yến

By nguyenuyenthu

VÀI NÉT SINH HOẠT CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ ĐẦU THẾ KỶ XX
QUA CÔNG TRÌNH "KỸ THUẬT CỦA NGƯỜI AN NAM" CỦA HENRI OGER

Nguyễn Thị Kim Oanh -Trần Thị Hải Yến[1]

hguom

Đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã ẩn chứa trong mình bao tinh hoa văn hóa dân tộc là mạch nguồn nuôi dưỡng tình cảm và là miền đất hứa của những cảm xúc sáng tạo. Nắm bắt được chất men Việt đặc biệt này vào đầu thế kỷ XX Henri Oger đã lặng lẽ đi trên con đường riêng với cách yêu và hoài vọng khám phá cái đẹp mang đậm dấu ấn cá nhân. "Kỹ thuật của người An Nam" ra đời chính là kết quả của tình yêu ấy. May mắn được tiếp cận và thật sự bị chinh phục bởi tác phẩm đó chúng tôi đã nhen nhóm một khao khát tìm hiểu "Vài nét sinh hoạt của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XX qua công trình "Kỹ thuật của người An Nam" của Henri Oger". Thiết nghĩ những vấn đề được làm sáng tỏ thông qua việc nghiên cứu sẽ là nguồn tư liệu quan trọng cho các ngành khoa học như Sử học Dân tộc học Xã hội học và các bộ môn nghệ thuật có liên quan. Điều quan trọng hơn từ đó có thể khơi dậy trong chúng ta niềm tin yêu và thái độ trân trọng quá khứ góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị sinh hoạt truyền thống trong đời sống văn hóa thời đại ngày nay.

Về công trình "Kỹ thuật của người An Nam" của Henri Oger

Henri Oger sinh năm 1885 và mất tích vào năm 1936. Đương thời người ta đánh giá ông là người thông thái tài cao học rộng và cực kỳ cần mẫn nhưng dường như cuộc đời của học giả người Pháp này đã không gặp may mắn yên vui. Không một lần được đón nhận vinh quang khoa học thậm chí ông còn phải chịu đựng sự miệt thị chống đối của giới nghiên cứu lúc bấy giờ khiến sự nghiệp công danh gia đình đều không mấy vẹn toàn cho đến lúc mất đi thì cũng không ai hay biết.

Nhận thấy có quá nhiều từ điển ngôn ngữ nhưng lại thiếu các tài liệu về phong tục và dân tộc học Henri Oger đã dành thời gian khảo sát sinh hoạt đời thường và sinh hoạt nghề nghiệp tại vùng đồng bằng Bắc Bộ xưa. Ròng rã hơn năm trời tác giả đã cùng một họa sĩ người Việt lang thang khắp các phố phường Hà Nội và vùng phụ cận để phác họa những hình ảnh phản ánh sinh hoạt của người dân từ sản xuất buôn bán đến vui chơi tập tục.

Vượt qua mọi trở ngại về vấn đề tài chính in ấn và bằng tất cả niềm yêu thích hứng thú với công việc Henri Oger đã cho ra đời tác phẩm in trên giấy dó khổ lớn bằng phương pháp in mộc bản. Bộ sách gồm hai tập tập văn bản do tác giả viết và tập tranh vẽ 700 trang gồm hơn 4000 hình vẽ.

Do được xem là người thiếu khiêm tốn Henri Oger đã phải chịu nhiều sự chống đối thù địch của giới nghiên cứu. Việc tác phẩm in với số lượng chỉ 60 bản cũng đã không gây được ảnh hưởng sâu rộng. Do vậy tác giả cùng tác phẩm tâm huyết của mình đã rơi vào quên lãng. Mãi đến năm 2004 trong một dự án khôi phục kho tàng di sản văn hóa bản gốc hoàn chỉnh duy nhất của cuốn sách mới được chọn để biên soạn lại và cho tái bản.

Ấn bản mới (EFEO 2009) vẫn giữ nguyên cấu trúc của ấn bản gốc. Tập bài viết được giới thiệu bằng ba thứ tiếng (Anh Pháp Việt) và 4200 tranh được tái hiện trong 700 trang của hai tập bản vẽ. Song song với việc in số lượng 2000 bản bản số hoá của ba tập sách cũng được phát hành dưới dạng DVD (1000 bản).

Vài nét sinh hoạt của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XX qua công trình "Kỹ thuật của người An Nam" của Henri Oger

Đồng bằng Bắc Bộ những năm đầu thế kỷ XX

Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thực dân Pháp đã bình định xong xứ Bắc kỳ bắt đầu công cuộc khai thác thuộc địa trên quy mô rộng lớn và tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề. Tình hình kinh tế ở đồng bằng Bắc Bộ đã có những biến đổi to lớn do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nền kinh tế bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp.

Trong xã hội sự phân hoá giai cấp ngày càng sâu sắc hơn. Số lượng của giai cấp nông dân chiếm đông đảo. Thực dân Pháp thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch gây tâm lý tự ti vong bản khiến văn hóa bản địa thời kỳ này khó có điều kiện phát triển.

Vài nét sinh hoạt của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XX qua công trình "Kỹ thuật của người An Nam" của Henri Oger

- Tết và lễ

Với những nét vẽ đơn giản mà tinh tế sống động mà đặc thù của tranh khắc gỗ thì vẻ đẹp thuần phát chính xác nhất của mảng đời sống nơi phố thị mới thật sự được bộc lộ một cách đầy đủ. Khởi nguồn là những sinh hoạt thuộc mảng đề tài Tết và lễ của người dân đồng bằng Bắc Bộ xưa. Qua hơn 60 bức vẽ từ Tết lớn đến hội nhỏ từ cưới hỏi đến ma chay như đang được tái hiện lại trước mắt chúng ta. Tết là sự thăng hoa của cảnh sắc và lòng người [3;7 19 49 175 235]; đám cưới là sự gắn kết nghĩa tình lứa đôi [4;349 436 451]; tang ma là lòng ngưỡng vọng thành kính của người sống với người ra đi [3;5 77 89]. Tất cả hòa quyện tạo nên một cái nhìn đa sắc thái sống động về những lễ tục truyền thống Việt.

- Phép thuật và bói toán

Đi từ một xã hội thuộc vào loại văn minh nhất nhì trên thế giới lúc bấy giờ việc đặt chân đến vùng đất An Nam quả là một sự mở rộng tầm mắt cho những nhà nghiên cứu người Pháp. Chính sự khác biệt này đã gợi bao hứng thú tò mò cho học giả trẻ Henri Oger. Phải vậy chăng trong bộ sử liệu bằng tranh này tác giả có đề cập đến cả một mảng đề tài gợi nhiều thú vị nhưng đồng thời cũng gây nhiều tranh cãi đó là: phép thuật và bói toán [3;1 60 85] [4;360 368 495]. Đây được xem là một tập tục dân gian phổ biến đã đi sâu vào nếp sống văn hoá Việt. Với dung lượng không nhiều (chỉ với 40 bức) nhưng sự xuất hiện của loạt tranh này đã khẳng định được sự tồn tại và phát triển của nó trong xã hội Việt Nam đương thời.

- Các phép trị liệu dân gian

Trong những mảng đề tài được tái hiện qua tranh của Henri Oger thì các phép trị liệu dân gian thật sự đã chinh phục được người viết bởi tính ứng dụng thiết thực mà nó cung cấp. Những miếng trầu củ nghệ hay quả chanh thường ngày đều có thể trở thành những liều tiên dược. Bên cạnh đó còn là tập hợp những phép trị theo kinh nghiệm dân gian: bắt mạch cạo gió đau bụng đốt lá sơn phải bỏng cầm tai... [3;5 53 161 240]. Bằng hình ảnh sinh động mảng đề tài này đem đến cho người xem những kiến thức vừa mới lạ vừa thân quen. Đây là một minh chứng cho yếu tố dung hoà và nương tựa vào môi trường sống của người Việt từ xưa đến nay.

- Phố phường và nghề bán hàng rong

Hơn 4200 tranh vẽ được Henri Oger ghi lại trong không gian của Hà Nội xưa và các vùng phụ cận. Đời sống ngoài phố chắc hẳn đã để lại nhiều ấn tượng trong tác giả bởi nếu không như thế thì hơn 150 tranh vẽ thuộc mảng đề tài này đã không thể mang giá trị tái hiện cao đến vậy. Phố xưa hiện lên trong tranh như một thực thể không thể sống động hơn gây bao xúc cảm hào hứng tò mò và say mê lạ lùng với những cái vốn rất đỗi bình thường [3;1 4 5 12 14 16 21].

- Vui chơi giải trí

Sống trong xã hội Pháp văn minh khi đến An Nam người lính nghĩa vụ Henri Oger lại có một niềm khoái riêng dường như ông chỉ muốn tìm về với những gì mộc mạc đậm chất An Nam nhất. Việc tái hiện lại gần 250 hình ảnh sinh hoạt vui chơi giải trí lên trang vẽ đã là minh chứng xác thực cho điều này. Các đối tượng thuộc mảng đề tài gồm có nhạc cụ các loại đồ chơi và trò chơi. Những nét vẽ trau chuốt tỉ mỉ đã thay tác giả bày tỏ tình cảm của mình với một nền văn hóa xa lạ nhưng đầy sức quyến rũ thôi thúc mọi giác quan khám phá [4;365 370 382 387] [3;2 3 49 58 71 88 285].

Từ công trình "Kỹ thuật của người An Nam" đến hiện thực sau hơn một thế kỷ nhìn lại

- Tinh thần khoa học chân chính của học giả trẻ Henri Oger

Bất cứ một công trình khoa học nào khi ra đời cũng sẽ chịu sự đánh giá phê bình và góp ý của những nhà nghiên cứu những người quan tâm đến vấn đề. "Kỹ thuật của người An Nam" cũng vậy. Trải qua biết bao thăng trầm sau hơn một thế kỷ ắt hẳn sẽ dễ để chúng ta đưa ra một cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn. Tuy nhiên bên cạnh việc ghi nhận công trình như một nguồn tư liệu điền dã dân tộc học một bách khoa thư bằng tranh có giá trị to lớn thì tác giả của nó - Henri Oger - cũng rất cần được nhìn nhận lại với một tinh thần lao động khoa học chân chính.

- Một vài tham chiếu từ tranh vẽ tới hiện thực

Hiện thực đồng bằng Bắc Bộ những năm đầu thế kỷ XX là nguyên liệu sống cho hơn 4200 tranh vẽ mà học giả người Pháp Henri Oger đã dày công nghiên cứu. Khi tiến hành việc tham chiếu từ tranh vẽ đến hiện thực xã hội lúc bấy giờ chúng tôi nhận thấy đa phần là sự giống nhau. Khoảng đầu thế kỷ XX phố phường Hà Nội và các vùng phụ cận là nơi thông thương sầm uất diễn ra mọi sinh hoạt thường nhật của người dân xưa nổi bật là gánh hàng rong - nét chấm phá của đồng bằng Bắc Bộ gần suốt thế kỷ XX. Bên cạnh đó các phong tục tập quán như lễ tết cưới hỏi - ma chay phép thuật và bói toán các phép trị liệu vốn có tự bao đời nay hiện lên nguyên trạng qua tranh của Henri Oger. Tuy nhiên một vài hiện thực được khắc họa mà phần đề nội dung tranh bằng chữ Hán có phần sai lệch. Thêm nữa do đôi khi mang cái nhìn của người nước ngoài có nền văn minh văn hóa tiến bộ mà Henri Oger nhìn nhận các sinh hoạt đời thường của dân tộc ta không mang tính khách quan.

- Từ sự phản ánh hiện thực của tranh nghĩ về bảo tồn giá trị truyền thống

Việc giữ gìn phát huy các giá trị truyền thống phải dựa trên nguyên tắc lựa chọn và duy trì nguyên vẹn những cái gì? Cái gì cần loại bỏ bổ sung làm mới? Đây là câu hỏi chung đặt ra cho các sinh hoạt đã được Henri Oger tái hiện. Nghiên cứu này chỉ xin được gợi ra hướng mở về việc bảo tồn các giá trị từ tranh mà không đưa ra ý kiến cụ thể nào.

Song bên cạnh đó chúng tôi lại nhận thấy được rằng không một quá khứ nào có thể giữ nguyên vẹn khi gia nhập vào đời sống của hiện tại và đi tới tương lai. Bản sắc và bản lĩnh văn hóa của dân tộc trong việc thể hiện những giá trị văn hóa chung phổ quát của nhân loại và khẳng định phần sáng tạo riêng của dân tộc mình bằng việc làm phong phú sâu sắc những giá trị đó - Thiết nghĩ đây mới thực là điều cần nhấn mạnh khi bàn về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt truyền thống trong thời đại ngày nay.

Lời kết 

Đồng bằng Bắc Bộ một vùng quê mới chỉ nhắc đến tên thôi cũng đủ gợi bao rung cảm trong tận sâu tâm tưởng những người con đất Việt. Có thể nói đây chính là vùng đất mang trong mình nét văn hóa điển hình của nước ta những năm đầu thế kỷ XX. Qua những nét mộc mạc chân thực của tranh khắc gỗ chỉ một vài khía cạnh sinh hoạt như Tết và Lễ phép thuật và bói toán các phép trị liệu dân gian đời sống ngoài phố nghề bán hàng rong và vui chơi giải trí cũng đã có thể vẽ nên một bức tranh văn hóa sống động mang đậm bản sắc dân tộc Việt.

Trong những năm gần đây cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế đã diễn ra sự phục hưng ở lĩnh vực văn hóa. Việc tham gia tìm hiểu nghiên cứu khơi dậy sắc thái văn hóa Việt qua tranh khắc gỗ của Henri Oger là một hướng đi nhằm góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Bằng tất cả sự nỗ lực và niềm đam mê trong công việc của mình chúng tôi mong muốn một lần được tri ân cùng tác giả và tìm về với văn hóa nguồn cội. Hy vọng sẽ có thể bắt gặp thật nhiều những tâm hồn đồng điệu trên con đường tìm về với văn hóa dân tộc nói riêng cũng như khám phá kho tàng tri thức chung của nhân loại.


TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

[1] Phan Kế Bính (2005) Việt Nam phong tục NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội.

[2] Henri Oger (tái bản 2009) Kỹ thuật của người An Nam Tập 1 NXB Thế giới Hà Nội.

[3] Henri Oger (tái bản 2009) Kỹ thuật của người An Nam Tập 2 NXB Thế giới Hà Nội.

[4] Henri Oger (tái bản 2009) Kỹ thuật của người An Nam Tập 3 NXB Thế giới Hà Nội.

[5] Nguyễn Mạnh Hùng (1989) Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ XX NXB Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Olivier Tessier (2009) "Tác phẩm Kỹ thuật của người An Nam hay là sự mở đầu của

"nhân học kỹ thuật" ở Bắc Việt Nam" Tạp chí Xưa & Nay Số 323 + 324 Trang 58 - 65 Hà Nội



[1] Sinh viên lớp 07CVNH khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm- Đại học Đà Nẵng.

------------------------------------------------

Xem bài đăng trong:

Tuyển tập Báo cáo

Hội Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010

http://www.kh-sdh.udn.vn/zipfiles/21.tbKHXHNV3/07.su.r.oanh-yen.pdf


More...