Sóng thần có thể vào Việt Nam

By nguyenuyenthu

NUT: Vừa qua sóng thần ở Indonesia khiến hàng trăm người chết và mất tích.

Tại nước ta đã có những nghiên cứu mới nhất và độc lập của nhóm các nhà khoa học ở Viện Khí tượng Thủy văn (Bộ Tài nguyên & Môi trường) và của Viện Vật lý Địa cầu (Viện Khoa học & Công nghệ). Tất cả đều chung nhận định: Việt Nam nằm ở vị trí ít có nguy cơ xảy ra sóng thần song không vì thế mà chủ quan.

Xin được giới thiệu bài viết Sóng thần có thể vào Việt Nam của QD đăng trên tienphong.vn ngày 29/10/2010.



Sóng thần có thể vào Việt Nam

 >> Sóng thần Indonesia khiến ít nhất 311 người chết
 >> Sóng thần tại Indonesia hơn 600 người chết mất tích
 >> Nâng cấp mạng lưới quan trắc động đất sóng thần

TP - Sau trận động đất gây sóng thần vừa qua ở Indonesia khiến hơn 700 người chết và mất tích các nhà khoa học lưu ý Việt Nam không thể chủ quan với hiểm họa này. Bởi nước ta nằm ở vị trí có xác suất xảy ra sóng thần không nhỏ.

Hình ảnh một trận sóng thần (ảnh minh họa từ Internet)
Hình ảnh một trận sóng thần (ảnh minh họa từ Internet).

Nghi vấn sóng thần tấn công Việt Nam

Cho đến thời điểm này giới khoa học nước ta chưa ngã ngũ bản chất của một thiên tai kinh hoàng từng xảy ra ở ven biển Thừa Thiên - Huế vào ngày 11- 9 -1904 do nước dâng gây ra. Tiến sĩ Vũ Thanh Ca - Viện Khí tượng Thủy văn & Môi trường Bộ Tài nguyên & Môi trường trích dẫn từ một báo cáo cho hay trận thiên tai "đã tàn phá 22.027 ngôi nhà làm đắm 519 thuyền và chết 724 người".

Có ý kiến cho rằng trận thiên tai này là do mưa to gây lụt lớn ven biển (như trận mưa lũ ở ba tỉnh Bắc Trung bộ hồi nửa đầu tháng 10 vừa qua). Có ý kiến nhận định đấy có thể là nước biển dâng do bão. Khi bão lớn đổ bộ vào bờ gió bão cường độ cao có thể khiến nước biển dâng đột ngột tới hàng mét thậm chí hàng chục mét. Các ý kiến khác lại quy thiên tai đó cho sóng thần dẫn bằng chứng của sóng thần ở bờ biển Nam Định (năm 1930) và Đà Nẵng (năm 1964).

Tuy nhiên tất cả ý kiến trên đều dựa trên suy đoán chứ không có bằng chứng xác thực. Trong bối cảnh tranh tối tranh sáng ấy ý kiến phủ nhận có sóng thần có vẻ được chấp nhận hơn cả. Tiến sĩ Vũ Thanh Ca cho biết tới nay các kết quả điều tra về khả năng xảy ra của sóng thần tại vùng bờ biển Việt Nam là rất ít.

Ông Ca cũng thừa nhận: "Chưa có bằng chứng rõ ràng khẳng định hay phủ nhận thông tin trên". Để làm rõ khả năng sóng thần xảy ra ở bờ biển Việt Nam Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thủy nguyên Viện trưởng Viện Vật lý Địa cầu đề nghị thực hiện các chuyến khảo sát dọc bờ biển Việt Nam.

Tiến sĩ Vũ Thanh Ca biện luận: Quan niệm của dân ven biển về sóng thần đôi khi thiếu chính xác. Người ta thường nhầm lẫn giữa nước dâng do bão với sóng thần. Nhiều khi thiệt hại do nước dâng do bão hay lũ lụt gây ra do mưa lớn tại vùng cửa sông cũng được quy kết cho nguyên nhân là sóng thần. Do đó thông tin về sóng thần tấn công vào bờ biển Thừa Thiên-Huế (ngày 11- 9 - 1904) hay ở bờ biển Nam Định (năm 1930) Đà Nẵng (năm 1964) là chưa có cơ sở rõ ràng.

"Rất nhiều khả năng đây là thiệt hại có nguyên nhân không phải sóng thần" Tiến sĩ Ca nói. "Thiên tai ở vùng bờ biển Việt Nam khá nhiều nhưng nguồn gốc của thiên tai nhiều khi không rõ ràng". Nguyên do được cho là phương pháp điều tra chủ yếu ở ta dựa trên ghi chép lịch sử về thiệt hại do thiên tai ở dải ven bờ và điều tra trong dân.

Theo Tiến sĩ Ca có một số tài liệu về thiệt hại nhưng vì không ghi chép rõ ràng nên không khẳng định được đó có thực sự do sóng thần hay không.

Không thể chủ quan

Dẫu chưa có bằng chứng xác đáng về sóng thần xảy ra trong quá khứ các nhà khoa học cho biết cũng không thể chủ quan với hiểm họa này bởi Việt Nam nằm ở vị trí có xác suất xảy ra sóng thần không nhỏ.

Thảm họa sóng thần ở Indonesia
Thảm họa sóng thần ở Indonesia . Ảnh: Internet

Nghiên cứu mới nhất và độc lập của nhóm các nhà khoa học ở Viện Khí tượng Thủy văn (Bộ Tài nguyên & Môi trường) và của Viện Vật lý Địa cầu (Viện Khoa học & Công nghệ) đều chung nhận định: Việt Nam nằm ở vị trí ít có nguy cơ xảy ra sóng thần song không vì thế mà chủ quan.

Theo đó một đứt gãy dưới Biển Đông phía tây Philippines có thể gây ra động đất cấp 9 và sóng thần. Chỉ trong vòng 2 - 3 tiếng sóng thần có thể ập đến Việt Nam và vùng biển miền Trung có nguy cơ bị tàn phá nặng nề nhất.

"Các nhà địa chấn phải nghĩ về động đất ở khu vực đới hút chìm phía tây bắc Philippines cũng có thể đạt độ lớn 8 9 tới 9 0 độ richter. Như vậy vùng bờ biển và hải đảo Việt Nam cũng có thể có nguy cơ sóng thần" Phó Giáo sư Tiến sĩ Thủy lưu ý.

Tại Hội nghị Diễn đàn khí hậu mùa do Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia tổ chức ở Vĩnh Phúc ngày 21 và 22-10 TS Nguyễn Hồng Phương Việt Vật lý Địa cầu cho biết tốc độ phân tích số liệu động đất và sóng thần của ta hiện quá chậm so với các nước trong khu vực và trên thế giới gây ảnh hưởng tới việc xây dựng và phát kịp thời các bản tin thông báo động đất tới các cơ quan hữu quan. Ta mất tới 20 phút để xác định các thông số động đất và tới 30 phút để thông tin được chuyển đi.

Mỹ Hằng 

Theo một số nhà khoa học Nhật Bản và New Zealand động đất tại dải đứt gẫy chìm trong khu vực Biển Đông phía tây Philippines đúng là có thể đạt 8 7+ 0 3 độ richter tức là từ 8 4 đến 9 0 độ richter.

Dựa trên nhận định đó nhà khoa học đã sử dụng mô hình trị số hiện đại để tính toán sự lan truyền của sóng thần trên Biển Đông với mục đích phục vụ công tác xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ sóng thần cho các vùng biển Việt Nam.

Giả thiết dải đứt gãy phía tây Philippines hoạt động với trận động đất cấp 9 khả năng xảy ra sóng thần gần như là hiện thực. Tại nơi xảy ra động đất ngoài biển sâu sóng thần có bước sóng hàng trăm (từ 300 km tới 600 km). Vì thế ở ngoài biển rất khó nhận biết có sóng thần hay không. Khi vào đến gần bờ sóng thần có bước sóng khoảng chừng 30 km tới 40 km thậm chí chỉ 30m.

Theo tính toán sau khi động đất khoảng hơn một giờ sóng thần sẽ lan truyền tới vùng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Tùy địa hình đáy biển tại một số đảo độ cao sóng thần ở các đảo này có thể rất lớn thậm chí cao hơn 5m.

Sau khoảng hai giờ từ khi hình thành sóng thần lan truyền tới vùng bờ biển nước ta và ảnh hưởng mạnh tới vùng biển từ Quảng Ngãi tới Phan Rang. Đà Nẵng cũng chịu ảnh hưởng của sóng thần nhưng yếu hơn. Trên bản đồ phân bố độ cao của sóng thần tại các vị trí gần bờ biển người ta thấy độ cao sóng thần thay đổi rất mạnh dọc theo bờ biển. Hầu như trên toàn dải bờ biển kể trên độ cao sóng thần vượt quá 3m.

Tại một số vị trí các nhà khoa học cảnh báo độ cao sóng thần có thể vượt quá 5m. Đặc biệt với độ cao sóng tại bờ là 5m độ cao sóng leo có thể vượt quá 10m. Với độ cao này sóng thần có thể gây ra những thiệt hại rất lớn cho vùng ven biển ngang với thiệt hại do sóng thần gây ra cuối năm 2004 ở Indonesia hơn nhiều lần so với cơn sóng thần hôm 25-10 vừa rồi cũng ở quốc đảo này.

QD

(tienphong.vn/29.10.2010)


More...

Mấy nét Quảng Nam xưa qua tập sách cũ

By nguyenuyenthu

Mấy nét Quảng Nam xưa qua tập sách cũ
"Quảng Nam phủ tập ký sự" là một bản sách xưa được sao đi chép lại nhiều lần. Qua các chi tiết trong sách người vùng Quảng Nam - Quảng Ngãi ngày nay có thể tìm thấy phần nào diện mạo của địa phương mình vào cuối nửa thế kỷ XVI.

Mô tả ảnh.
Ảnh chụp tờ 1a (bản chữ Hán) của "Quảng Nam phủ tập ký sự". (Ảnh: PB)
Thiên ký sự bằng chữ Hán này được một thư lại ở Phiên ty Quảng Ngãi xưa là Lê Đăng Hiển sao lục lại vào tháng 5 năm Minh Mạng thứ năm (1824) từ một bản sách do một người họ Mai (Mai thị*) biên soạn vào khoảng niên hiệu Chánh Trị đời Lê Trung hưng (1558-1571). Vào năm Duy Tân thứ tám (1914) người cháu 4 đời của ông Đăng Hiển là Lê Viết Hòa đã "phụng chép" để lưu hậu.
Năm 1996 Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Quảng Ngãi xuất bản bản dịch thiên ký sự này. Xét riêng phạm vi giới hạn tương ứng với vùng Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay có thể tìm thấy nhiều chi tiết bổ ích.
Trước hết là địa danh. Sách kể về cuộc hành binh tái chiếm vùng Quảng Nam xưa [trước đó do quân nhà Mạc chiếm giữ] của Đô đốc Bùi Tá Hán (1496-1568) một võ tướng thời Lê Trung hưng. Năm 1545 ông xuất quân từ cửa biển Hội Thống [Thanh Hóa (cửa Hội Triều)?; Nghệ An (cửa Hội)?] vào đến vùng biển Quảng Nam - Quảng Ngãi chia quân làm 2 cánh trong đó có một cánh đổ bộ vào bãi biển Sơn Trà rồi phân làm 2 chi: "Một chi phối hợp với quân đội ở đồn điền Phú Ninh chốt giữ đò Bến Ván"; "một chi phối hợp với quân binh đồn điền Tân Phước dùng sức mạnh đánh chiếm huyện lỵ Bình Sơn chốt giữ bến đò Châu Á". Trước đó sách cũng kể: "Ngày bảy tháng tám [năm Ất Tỵ 1545] các đồn điền Phú Ninh Liên Chiểu Tài Lương đều dựng cờ khởi nghĩa còn các đồn điền gần trấn thành thì vẫn an nhiên không động đậy" [tờ 3b bản chữ Hán].
Các địa danh nêu trên gần như trùng khớp với các địa danh xưa ở vùng Quảng Nam - Đà Nẵng. Liên Chiểu là tên một quận ở Đà Nẵng ngày nay; Phú Ninh vốn tên gốc là Tân Ninh thuộc vùng nguồn Chiên Đàn xưa sau đổi thành Phú Ninh do kiêng húy vua Lê Hoằng Định (Duy Tân); Tân Phước có khả năng là tên xưa của vùng Tiên Phước khi chưa đổi vì kiêng húy; Tài Lương có khả năng là Tài Đa (tên một làng cổ trù phú vùng hạ nguồn Chiên Đàn - nay thuộc xã Tiên Thọ huyện Tiên Phước) chữ Đa và chữ Lương viết tháu khi bị mờ rất dễ nhận dạng nhầm; Bến Ván tên xưa là Bản Tân nay thuộc thị trấn An Tân - huyện Núi Thành.
Thứ đến là tình hình khai thác đất đai một cách đặc biệt ở vùng Nam - Ngãi khi quân của Đô đốc Bùi Tá Hán vào: Đó là việc sắp xếp lại các đồn điền do quân đội cai quản vốn có từ trước đó. Các ruộng đất do đồn điền này khai vỡ đều xếp vào loại ruộng công (công điền) được cấp cho quân lính thuộc đồn điền "muốn giải ngũ nhập tịch với xã sở tại" "để họ làm ăn sinh sống" hoặc "giao cho các thôn xã sở tại phân cấp cho quân dân cày cấy chịu tô thuế".
Thứ ba là việc di dân từ Hải Dương Thanh Nghệ vào. Sách chép: "Từ sau ngày miền đất Quảng Nam được vỗ yên nông dân nghèo ở các xứ Thanh Ba (Thanh Hóa - NV) Nghệ An Hải Dương lũ lượt kéo nhau vào đây để vỡ ruộng lập làng". Một số gia phả các họ tộc tiền hiền vùng nam Quảng Nam (hiện còn) đã xác nhận rất rõ việc này.
Điểm đặc biệt nhất mà sách cung cấp cho người Quảng thời nay là biết về các quy định do ông Bùi đề ra đã là nguồn gốc một số tập quán đặc trưng của vùng miền như: "làm nhà kiểu tám cột ba gian lợp bốn tấm rui vuông bốn góc"; "mỗi xóm đào một cái giếng lấy nước trong sạch để ăn uống"; "phụ nữ không dùng quần không đáy; đồng loạt dùng quần như nam giới nhuộm đà hoặc chàm để phân biệt nam nữ"; "cày bừa đều dùng ách mắc 2 trâu kéo; trên mỏ cày có thêm trạnh phụ"; "ngăn sông làm bờ xe nước để đưa nước vào ruộng"; "làm thuyền nan trét dầu rái để thay thuyền ván"; "mỗi xã thôn mời một thầy thuốc để chữa trị cho dân"; "xã thôn nào hộ khẩu tăng nhiều... rước một ông đồ lập nghĩa thục để dạy lễ nghĩa và văn học cho con em"...
Ngoài ra sách còn cung cấp cho các nhà nghiên cứu địa phương biết thời điểm lập đường thiên lý: "Từ huyện Hy Giang (Duy Xuyên ngày nay - NV) đến huyện Tuy Viễn (nay thuộc tỉnh Bình Định - NV) cần đắp một con đường thiên lý rộng hai trượng rưỡi làm cầu cống nếu qua sông lớn thì dùng thuyền đò cứ 17 lý đặt một dịch trạm để lính giao dịch chuyển đệ công văn". Hoặc biết lai lịch về quy định đo đạc và phân hạng ruộng đất: "khám đạc ruộng đất công cũng như tư phân định các hạng để tiện việc thu thuế. Nên định mỗi sào mười lăm thước; ruộng (điền) chia làm ba hạng đất (thổ) chia làm ba hạng".
Đó là chưa kể các chính sách đối với biên cương (biên cương sách) và các vùng đất xa (nhu viễn sách) rất đáng được người thời nay tham khảo.
Phú Bình 

(baodanang.vn/22.10.2010)



(*) Theo một số nhà nghiên cứu tác giả tập ký sự này có thể là ông Mai Đình Dõng (Dũng) từng lĩnh chức Trấn thủ Quảng Nam [khoảng sau năm 1570 đến 1602] vào thời chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa.


More...

Vua Gia Long ở Thăng Long

By nguyenuyenthu

-->
Điện Kính Thiên cuối thế kỷ XIX - Ảnh: Dr
Hocquard
Cùng với thời gian vai trò của nhà Nguyễn trong tiến trình lịch sử Việt Nam cũng ngày càng được làm rõ dưới ánh sáng của một tư duy nghiên cứu khoa học khách quan không thiên kiến đặc biệt là những đánh giá về người sáng lập vương triều này.

Tham dự hội thảo quốc tế "Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến anh hùng vì hòa bình"   PGS-TS Choi Byung Wook (Đại học Inha Hàn Quốc) đã thực hiện một khảo cứu về cuộc công du đầu tiên của vua Gia Long tới thành Thăng Long ngay sau khi ông giành được quyền lực trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam từ nhà Tây Sơn. Báo Thanh Niên xin giới thiệu cùng bạn đọc lược trích bản tham luận rất đáng chú ý này như một nỗ lực tìm hiểu lịch sử Việt Nam của một học giả nước ngoài với nhãn quan độc lập. 

Trong lịch sử Việt Nam sự thống nhất Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau được tiến hành trong 2 lần. Lần thứ nhất diễn ra vào thế kỷ XIX dưới thời vua Gia Long - người là hiện thân sự thống nhất miền Nam (Gia Định) và miền Bắc (Thăng Long). Gia Long đã từng hiện diện ở 3 trung tâm chính trị là Sài Gòn Huế và Thăng Long để cai trị đất nước. Ông ở Sài Gòn năm 1788 để chuẩn bị lên ngôi hoàng đế vào năm sau đó đến Huế vào tháng 5 năm 1801 và tiếp tục về Thăng Long trước khi ông chọn Huế là nơi trị vì lâu dài.

Gia Long vào thành Thăng Long vào ngày 21 tháng 6 năm 1802 (âm lịch) và ông rời Thăng Long vào ngày 27 tháng 9 năm đó. Trong suốt 3 tháng giam mình trong điện Kính Thiên Gia Long ban hành một loạt chính sách mới.

Sự hiện diện của Gia Long ở Thăng Long có ý nghĩa đáng kể mặc dù thời gian chỉ là 3 tháng. Trong suốt thời gian ông ở đây ông đã minh chứng cho các luật quan trọng như việc cải tổ bộ máy hành chính nhà nước thiết lập mối quan hệ ngoại giao hệ thống thuế quản lý giáo dục cách thức đương đầu với quân thù... Với thời gian 3 tháng Gia Long ở Thăng Long thành phố này trở thành thành phố lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam là trung tâm tập trung quyền lực của toàn bộ quốc gia bao gồm các khu vực quanh sông Hồng sông Hương và sông Cửu Long.

Trong số những chính sách mới được ban hành trong 3 tháng đó tôi muốn tập trung nói về 2 vấn đề. Một là chính sách hòa giải đối với những quan lại thời Trịnh và Lê. Hai là việc thiết lập mối quan hệ ngoại giao với ngoại quốc.

Tại sao và như thế nào mà hai chính sách này liên kết với nhau để ta có thể hiểu thêm về Thăng Long vào đầu thế kỷ XIX? Theo quan điểm của tôi hai chính sách này là hai điểm chính mà Gia Long xét đến để bảo vệ dân tộc mình khỏi những nguy cơ tiềm ẩn từ cả bên trong và bên ngoài. Bằng việc xem xét 2 chính sách này chúng ta sẽ hiểu hơn tầm quan trọng của sự hiện diện của Gia Long đối với việc thống nhất dân tộc vào nửa đầu thế kỷ XIX.

Hòa giải

Như đã biết Nguyễn Phúc Ánh (1762-1820 sau này hiệu Gia Long) là một chiến binh dày dạn kinh nghiệm (một xạ thủ cừ khôi) người đã lăn lộn trên rất nhiều chiến trường từ thuở thiếu thời. Khi quân đội của mình tiến ra phía bắc để giành lại thành Thăng Long từ tay quân Tây Sơn ông đã ngay lập tức theo sau đoàn bộ binh lãnh đạo bởi Tả tướng quân Lê Văn Duyệt cùng lúc đó là lực lượng hải quân do tướng Nguyễn Văn Trương chỉ huy. Theo Đại Nam thực lục (ĐNTL) Lê Văn Duyệt chiếm được thành Thăng Long vào ngày 17 tháng 6 năm 1802. Chỉ 4 ngày sau đó Nguyễn Phúc Ánh đã làm chủ điện Kính Thiên nơi ở của các hoàng đế triều Lê.

Chính sách hòa giải của ông tập trung vào những thành viên trong bộ máy chính quyền cai trị trước đây dưới thời Lê/Trịnh và vào người nhà Tây Sơn. Các quan lại dưới triều Lê trước đây có thể được tha nếu họ không nhận lời mời làm quan của quân Tây Sơn mặc dù trong thực tế những người này chính là người của nhà Trịnh những kẻ đã tranh chấp với nhà Nguyễn và đã đưa quân vào chiếm kinh đô của nhà Nguyễn (1775). Ông ta không có đủ lòng thương để tha cho những tướng lĩnh hàng đầu trong bộ máy chính quyền Tây Sơn bởi đây là những người luôn muốn tiêu diệt cả gia đình ông cho đến người cuối cùng. Tuy nhiên đối với những binh lính còn lại ông muốn đưa họ gia nhập đội quân của mình: "Còn người nào bị ép phải theo thì đều tha nên cứ ở yên như cũ. Những kẻ có nhận quan chức của giặc ra thú thì được miễn tội gần thì hạn 3 ngày xa thì hạn 5 ngày." (ĐNTL). Trước sắc lệnh này nhiều tướng sĩ của triều Lê/Trịnh trước đây và Tây Sơn đã quyết định phụng sự vương triều mới. 

Những nhà trí thức nho giáo những người được cho là trung quân nhưng lại góp sức cho quân Tây Sơn cũng không tránh khỏi sự trừng phạt mặc dù một vài người có chức quan thuộc hàng cao nhất trong triều Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm (1746-1803) Nguyễn Gia Phan (1749-1829) và Phan Huy Ích (1750-1822) đã được miễn tội chết để có thể phụng sự vương triều mới trong công tác ngoại giao với Trung Quốc bởi họ là những người có đầy đủ kinh nghiệm trong vấn đề này. Mặc dù đây chỉ là tạm thời và sau này họ vẫn phải chịu hình phạt nhưng những chứng cứ đã cho chúng ta thấy rằng Gia Long đã tìm cách duy trì chính sách hòa giải của mình càng lâu càng tốt.

Gia Long đã tổ chức một buổi nghi lễ cho người dân và dành cho các vị thần có liên quan tới Thăng Long. Trong sách ĐNTL Gia Long đã ra ngoài điện Kính Thiên lần đầu tiên để tới thăm lăng Lê Thái Tổ (tháng 7) và một tháng sau đó ông chịu trách nhiệm tổ chức thu lễ ở Văn Miếu được xây dựng vào triều Lý và được duy trì suốt thời Lê.

Nhằm kết nối người dân ngoài bắc Gia Long tìm đến hậu duệ của họ Lê là Lê Duy Hoán và phong là Diên Tự công ban cho 1.016 người hầu cận và 10.000 mẫu đất. Chính sách nổi trội hơn nữa của Gia Long là trong việc nhẹ nhàng đối với họ Trịnh. Theo nguyên tắc đối xử nồng hậu Gia Long nhấn mạnh với người truyền ngôn của nhà Trịnh: "Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi dần nên ngăn cách đó là việc đã qua của người trước không nên nói nữa. Ngày nay trong ngoài một nhà nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời thương người còn sống nhớ người đã mất nên lấy tình hậu mà đối xử..." (ĐNTL). Gia Long đã cung cấp cho Trịnh Tư người có trách nhiệm với việc cúng tế tổ tiên nhà Trịnh 500 mẫu ruộng để ông ta tiếp tục nhiệm vụ đang đảm nhiệm. Cùng thời điểm đó 247 thành viên họ Trịnh được miễn thuế binh dịch thuế thân.

Việc hòa giải dàn xếp của vua Gia Long dành cho cả hậu duệ của những người có công được coi là khai quốc công thần trung hưng công thần của triều Lê. 33 khai quốc công thần 15 trung hưng công thần được đặt tên khiến cho con cháu họ được tôn vinh bởi những tước hiệu khác nhau. Đối với những người ở phía bắc không theo nhà Tây Sơn hoặc là chiến đấu chống lại hoặc là bất hợp tác thì đều được liệt vào danh sách những người trung quân...

Một điều nữa cần chú ý là chính sách hòa giải của Gia Long đối với các dân tộc thiểu số. Gia Long là hiện thân của một xã hội đa dân tộc vì thế sức mạnh của ông dựa vào sự đoàn kết đa tộc người. Vào thời điểm đó các tỉnh Tuyên Quang Hưng Hóa Thái Nguyên có rất nhiều tộc người cư trú. Để liên kết sức mạnh của tất cả các tộc người này thành một quốc gia hùng mạnh mới Gia Long mời họ về Thăng Long. Thực hiện lời hứa triều đình đã ban quan chức cho họ.

Người dịch: Ths Phạm Quốc Thành trường ĐH KHXH-NV ĐH Quốc gia HN

PGS-TS Choi Byung Wook
(Đại học Inha Hàn Quốc)

(thanhnien.com.vn/08.10.2010)

More...

Hoa Lư - đất Cố đô

By nguyenuyenthu

Hoa Lư - đất Cố đô

Khách du lịch nước ngoài thăm đền vua Đinh
tại Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình).
ND - Từ Phong Châu đến Hà Nội sau mấy nghìn năm kinh đô - thủ đô của nước Việt Nam đã ra đời phát triển cùng với sự phát triển của ý thức tự cường của lòng tự tôn và khả năng đáp ứng yêu cầu tổ chức quản lý đất nước. Và xét theo thời gian Hoa Lư từng là kinh đô một thời của cha ông gắn liền với một thời kỳ hết sức quan trọng của lịch sử dân tộc là nơi từ đó Lý Thái Tổ mở ra con đường đến với Thăng Long...
Theo lời người xưa kể lại đất này ngày trước mọc rất nhiều cây lau nên gọi là Thung Lau. Rồi do cây lau đi cùng với sự tích "cờ lau tập trận" của chú bé Ðinh Bộ Lĩnh mà dần dà đã được gọi là động Hoa Lau rồi Hoa Lư. Sau khi dẹp xong mười hai sứ quân và thống nhất đất nước Ðinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế đặt tên nước là Ðại Cồ Việt định đô tại Hoa Lư mở đầu thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc. Ðó cũng là sự kiện ghi dấu ấn sau nhiều nỗ lực không ngừng nghỉ phải trả bằng cả xương máu lần đầu cha ông chúng ta đã xác lập được vị trí quốc gia độc lập của mình với các nước láng giềng. Như câu đối trong đền Ðinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư còn ghi rõ: Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo - Hoa Lư đô thị Hán Tràng An (Nước Cồ Việt ngang với nhà Tống đời Khai Bảo - Kinh đô Hoa Lư như Tràng An của nhà Hán). 
Ðinh Tiên Hoàng chọn Hoa Lư làm kinh đô của nước Ðại Cồ Việt vì thuở ấy Hoa Lư "là nơi núi non trùng điệp. Núi trong sông sông trong núi. Căn cứ thủy bộ rất thuận tiện. Sau lưng là rừng trước mặt là đồng bằng xa nữa là biển cả... Nơi đây non sông tráng lệ phong thủy hài hòa". Với điều kiện địa lý như vậy Hoa Lư rất phù hợp với việc xây dựng một kinh thành có khả năng chiến đấu phòng ngự trước nạn ngoại xâm. 42 năm tồn tại (968 - 1010) với tư cách là kinh đô Hoa Lư trở thành nơi trị vì của sáu vị vua với ba triều đại đã lập nên các chiến công "phá Tống bình Chiêm" hiển hách. Một thời Hoa Lư từng là trung tâm kiến trúc văn hóa lớn như sách Ðại Việt sử ký toàn thư đã viết: "Năm Giáp Thân thứ 5 (984): dựng nhiều cung điện làm điện Bách Bảo Thiên tức ở núi Ðại Vân cột điện dát vàng bạc làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu bên tây là điện Tử Hoa bên tả là điện Bồng Lai bên hữu là điện Cực Lạc rồi làm lầu Ðại Vân rồi lại cho dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc lợp bằng ngói bạc". Sau khi định đô ở Hoa Lư Ðinh Tiên Hoàng là Hoàng đế Việt Nam đầu tiên cho lập chức "tăng thống" xác định Phật giáo là quốc đạo mà cột kinh trong chùa Nhất Trụ ở Hoa Lư các mặt khắc bài thần chú trong kinh Lăng Nghiêm và một số bài kệ là dấu tích cụ thể còn lại đến ngày nay. Ðinh Tiên Hoàng cũng là người ra lệnh đúc tiền bằng đồng gọi là "tiền Thái Bình" - đồng tiền cổ nhất của Việt Nam. Còn vua Lê Ðại Hành ngoài võ công "bình Chiêm" Ngài đã khai sinh ra lễ tịch điền khuyến khích việc nông gia phát triển kinh tế. Ngài cũng là người đã cho đào kênh Nhà Lê để mở mang đường thủy. Cũng chính tại Hoa Lư triều đình đã phong cho nghệ nhân hát chèo Phạm Thị Trân chức Ưu Bà "chịu trách nhiệm dạy quân lính múa hát đánh trống gảy đàn diễn các tích trò lúc đó gọi là hát trò nhời hay gọi là hát chèo". Người đời sau coi Phạm Thị Trân là "bà tổ hát chèo" và ca ngợi tài năng của bà qua bài thơ: "Múa hát như muốn hát bàn đào - Hát giục mây bay giục gió ào - Tiếng hát kinh hồn quân bạc ác - Lời than làm nhỏ lệ đồng bào"...
Có thể nói đó là những sự kiện cực kỳ quan trọng vì chúng chứng minh ý thức tự chủ của cha ông là hết sức rõ ràng và cha ông đã rất nỗ lực để có được điều đó.
Năm 1010 Lý Thái Tổ cùng triều đình rời Hoa Lư đến định đô ở Thăng Long nhưng Hoa Lư vẫn là một căn cứ quân sự một trung tâm văn hóa của đất nước hình ảnh của Cố đô Hoa Lư vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí người Việt. Một số triều đại về sau đã góp sức giữ gìn Hoa Lư như tu bổ xây dựng các đền thờ Vua Ðinh Tiên Hoàng Vua Lê Ðại Hành. Hẳn là không ngẫu nhiên ở Thăng Long lại xuất hiện những địa danh Cầu Dền Cầu Ðông Tràng Tiền tháp Báo Thiên đền Trấn Vũ... như từng có ở Hoa Lư. Ðến năm 1049 Vua Lý Thái Tông cho xây dựng chùa Một Cột ở Thăng Long thì ngôi chùa này cũng có nét tương đồng với chùa Nhất Trụ ở Cố đô xưa. Còn một điều đặc biệt nữa là sự kiện Vua Trần Thái Tông cho xây dựng hành cung Vũ Lâm ở Hoa Lư đây chính là căn cứ của vua tôi nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ hai (1285). Ở Hoa Lư hôm nay đền Thái Vi chính là nơi thờ các vua Trần Thái Tông Trần Thánh Tông Trần Nhân Tông Trần Anh Tông cùng các tướng Trần Hưng Ðạo Trần Quang Khải và hoàng hậu Thuận Thiên...
Với hàng nghìn năm tuổi đời lại gắn liền với một thời kỳ hết sức đặc biệt của đất nước khi Nhà nước độc lập tự cường còn non trẻ vừa phải tự tăng cường nội lực của mình vừa phải đương đầu với các thế lực ngoại xâm nên đến hôm nay Cố đô Hoa Lư không chỉ còn lại những di tích về một thời hào hùng mà còn đầy ắp những huyền thoại về sự ra đời của nước Ðại Cồ Việt về vị vua anh minh và tài ba Ðinh Tiên Hoàng về bản lĩnh và khí phách dân tộc ở buổi dựng nước. Những người già ở Hoa Lư vẫn kể cho con cháu nghe sự tích về "rái cá thần" về "viên ngọc đế vương" về công chúa Phất Kim về sông Vân Sàng và mối tình của Lê Hoàn về sông Hoàng Long với sự tích rồng vàng và làn điệu chèo Ninh Bình vẫn vang lên trên sân khấu cả nước... Ðó cũng là niềm tự hào mà Trưởng Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư Giang Hồng Ðức nói với tôi: "Cả tỉnh Ninh Bình có 754 di tích lịch sử đã xếp hạng thì ở Hoa Lư có tới vài trăm di tích. Anh chị em trong Ban quản lý hằng ngày chăm nom tu bổ sửa sang khu di tích bằng tấm lòng của cháu con".
Ðứng giữa cánh đồng Hoa Lư nhìn ra bốn phía trập trùng núi non tôi cố hình dung về Hoa Lư hàng nghìn năm trước mà không thể hình dung nổi và lại càng thêm kính trọng cha ông. Ngày ấy biển chưa lùi xa các con sông Sào Khê Hoàng Long... còn rộng và đầy ắp nước. Ngày ấy chính sự rối ren mười hai sứ quân mỗi người cát cứ một vùng ngăn trở sự thống nhất không tập trung sức mạnh thống nhất của dân tộc để có thể vừa chấn hưng vừa đương đầu thắng lợi trước các loại kẻ thù ở cả hai đầu đất nước. Và từ Hoa Lư Vua Ðinh Tiên Hoàng đã làm nên nghiệp lớn của ông đồng thời cũng là nghiệp lớn của dân tộc. Ngài sau đó là Vua Lê Ðại Hành cùng vô vàn người con đất Việt yêu nước và giàu lòng tự tôn dân tộc đã cũng làm nên các tiền đề để sau này trước ngày đại phá quân Thanh Vua Quang Trung khẳng định: "Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hàng nghìn năm trôi qua ngôi mộ trên núi Mã Yên và đền thờ Ðinh Tiên Hoàng vẫn được người Hoa Lư thay mặt cả nước giữ gìn tôn tạo. Cùng với Ðền Hùng Hoa Lư trở thành địa chỉ hành hương của mọi người Việt Nam ở khắp ba miền. Họ đến đây không chỉ để vãn cảnh mà trước hết là để tưởng nhớ tổ tiên tưởng nhớ tiền nhân đã có công giành lại nền độc lập cho đất nước. 
Tự hào về quá khứ nhưng người Hoa Lư không quên hiện tại nên đi trên đất Hoa Lư hôm nay không khó để nhận thấy sự hồ hởi trên mỗi gương mặt của người Cố đô. Cố đô xưa nay nhà cửa san sát. Ðường giao thông ngang dọc và thẳng tắp. Ống khói nhà máy vươn cao. Vì điện - đường - trường - trạm đã hoàn thành từ các năm trước người Hoa Lư đang cố gắng phấn đấu để đạt tới mục tiêu vật chất - tinh thần cao hơn và lớn hơn. Ði lên từ truyền thống nỗ lực để xứng đáng với truyền thống đó là khát vọng của mỗi người dân đang sinh sống trên đất này. Hoa Lư đã và đang đi lên từ những lợi thế riêng của mình với công nghiệp xi-măng mỗi năm đạt 10 triệu tấn với các khu du lịch nổi tiếng ở trong và ngoài nước như di tích Cố đô và các danh lam thắng cảnh ở Tam Cốc - Bích Ðộng Tràng An hệ thống đền chùa cổ kính chứa đựng nhiều giá trị tinh thần như chùa Bàn Long chùa Huê Lâm chùa Kỳ Vỹ chùa Thủ phủ Thành Hoàng đền Lăng đền Vực Vông ... Sự đi lên của Hoa Lư gắn với sự đi lên của tỉnh Ninh Bình địa phương có GDP đạt 16 15% và hiện chỉ còn 6 15% hộ nghèo đã xóa 100% nhà dột nát sản lượng lương thực đạt 50 3 vạn tấn/năm...
Buổi sáng tháng 10 ở Hoa Lư nắng vàng rực rỡ. Các công việc chuẩn bị Ðại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đã hoàn tất. Cổng Cố đô Hoa Lư bề thế đã cắt băng khánh thành. Ðêm 30-9-2010 chương trình truyền hình trực tiếp từ Cố đô Hoa Lư với chủ đề Hoa Lư - Thăng Long - Hà Nội do Truyền hình Việt Nam thực hiện đã đem tới cho đồng bào cả nước hình ảnh được nghệ thuật hóa về quá trình lập nước giữ nước của các nhà vua thời Ðinh - Lê sự kiện Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô và đất nước đi lên trong thời đại mới. Từ Hoa Lư tới Thăng Long đó không chỉ là kết quả của việc lựa chọn vị trí địa lý thích hợp với một kinh đô - Thủ đô sâu xa hơn đó là tầm nhìn từ sự lớn mạnh của đất nước từ nhu cầu tổ chức và quản lý đất nước trong thời đại cần phải mở mang phát triển. Trên lộ trình hàng nghìn năm đầy cam go phải đối mặt với đủ loại kẻ thù cha ông chúng ta đã vượt qua tất cả để có ngày hôm nay. Và có một điều chắc chắn là trên hành trình gian nan ấy từ vua tôi nhà Trần cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi sự nghiệp của Quang Trung phong trào của các sĩ phu yêu nước chống Pháp tới phong trào cách mạng của toàn dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Bác Hồ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay đều mang trong đó các giá trị đã ra đời từ thuở Ðinh Tiên Hoàng tạo dựng và bảo vệ đất nước sau hàng nghìn năm Bắc thuộc. Vì thế những ngày này mọi người Việt Nam hướng tới Thăng Long - Hà Nội thì cũng không thể quên Hoa Lư bởi nơi ấy là ngọn nguồn là trang đầu tiên của pho lịch sử về một thời kỳ mới của dân tộc - thời kỳ nước Việt Nam được khẳng định là một quốc gia tự chủ và từ đó người Việt Nam được làm chủ nước Việt Nam.
Nguyễn Hòa

(nhandan.com.vn/02.10.2010)


More...

Nâng cấp pháp lý bảo vệ Cụ Rùa

By nguyenuyenthu

Nâng cấp pháp lý bảo vệ Cụ Rùa

>> Yêu cầu lập phương án bảo vệ cụ Rùa

TP - Đề xuất này sẽ được đưa ra tại cuộc họp bàn về điều chỉnh Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ phục hồi và phát triển diễn ra hôm nay ở tỉnh Vĩnh Phúc. Chuyên gia Rùa Hồ Gươm cho rằng nên đưa loài này vào một mục riêng.

Ảnh Rùa Hồ Gươm (do PGS-TS Hà Đình Đức cung cấp)
Ảnh Rùa Hồ Gươm (do PGS-TS Hà Đình Đức cung cấp).

PGS-TS Hà Đình Đức Đại học Quốc gia Hà Nội đề xuất không xếp Rùa Hồ Gươm vào mục loài Giải Thượng Hải mà xếp vào một mục riêng: Rùa Hồ Gươm. Ông Đức là người được mời tham dự hội thảo do Bộ Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tổ chức lấy ý kiến đóng góp về dự thảo thông tư công bố danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ phục hồi và phát triển.

Trong Danh mục được Bộ NN&PTNT ban hành năm 2008 tại Bảng 2- Các loài có nguy cơ tuyệt chủng cực kỳ lớn (ký hiệu tiếng Anh là CR) mục loài Giải Thượng Hải có liệt kê địa điểm tìm thấy loài này bao gồm: Phú Thọ (Hạ Hòa) Hà Tây (Bằng Tạ) Hà Nội (Hồ Gươm) Hòa Bình (Lương Sơn) Thanh Hóa (sông Mã).

Như vậy theo danh mục hiện hành Giải Thượng Hải là loài duy nhất trong họ ba ba "có nguy cơ tuyệt chủng cực kỳ lớn - CR". Theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 cấp CR là cấp mà ở đó một taxon đang đứng trước một nguy cơ cực kỳ lớn sẽ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trong tương lai gần.

PGS Hà Đình Đức tiếp tục khẳng định Rùa Hồ Gươm và Giải Thượng Hải là hai loài "hoàn toàn khác nhau". Dựa trên kết quả nghiên cứu so sánh về hình thái với các loài rùa mai mềm lớn trên thế giới cũng như ở Đông Nam Á và trao đổi với các chuyên gia nghiên cứu rùa quốc tế PGS Đức kết luận: Rùa Hồ Gươm là loài rùa mới đã công bố trên Tạp chí Khảo cổ học số 4/2000 với tiêu đề "Rùa Hồ Gươm loài rùa mới cho khoa học" và đặt tên là Rafetus leloii thay vì Rafetus swinhoei (vốn là tên khoa học của loài Giải Thượng Hải).

Được biết Rùa Hồ Gươm hiện chưa có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và cũng chưa có tên trong Danh sách các loài động vật quý hiếm cấm săn bắt khai thác của Bộ NN&PTNT.

QD

(tienphong.vn/28.09.2010)


More...

Hồ sơ Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa

By nguyenuyenthu

Hồ sơ Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa      
Lễ bàn giao bộ hồ sơ Ty Khí tượng đảo
Hoàng Sa 1955 cho Bộ Ngoại giao ngày
29.7.2010 - Ảnh: B.N.L
Trong thời gian vừa qua tại Thừa Thiên - Huế người dân các nhà nghiên cứu và Chi cục Lưu trữ của tỉnh đã phát hiện và bàn giao cho Bộ Ngoại giao nhiều tài liệu quan trọng liên quan đến việc thực thi chủ quyền VN trên quần đảo Hoàng Sa. Đây là những bằng chứng cho thấy qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau VN đã thực thi chủ quyền liên tục trên quần đảo Hoàng Sa.

Gần đây nhất ngày 29.7.2010 UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã bàn giao cho Bộ Ngoại giao bộ hồ sơ được mang tên "Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa 1955" do Chi cục Văn thư lưu trữ tỉnh Thừa Thiên-Huế tìm thấy trong kho lưu trữ lịch sử III (hồ sơ tiếp quản từ chế độ cũ trước năm 1975) của chi cục.

Nguồn gốc tài liệu

Ông Nguyễn Tất Thắng Chi cục trưởng Chi cục Văn thư lưu trữ tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết bộ hồ sơ này nguyên nằm trong Mục lục hồ sơ của Ty Kiến thiết (chế độ cũ) lưu trữ những tài liệu trong giai đoạn từ 1897 - 1960 được Nhà nước cách mạng tiếp quản sau ngày giải phóng thống nhất đất nước năm 1975. Bộ hồ sơ được Phòng Lưu trữ tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) lập danh mục lưu trữ ngày 15.7.1984 để thống kê thường xuyên tài liệu trong kho lưu trữ. Trong quá trình quản lý và sử dụng danh mục hồ sơ của chi cục ông Thắng đã tìm thấy bộ hồ sơ này. "Nhận thức ý nghĩa quan trọng và giá trị của tài liệu về mặt lịch sử liên quan đến chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa tôi đã tiến hành khai thác tư liệu báo cáo với UBND tỉnh Sở Nội vụ để xin ý kiến chỉ đạo về việc bàn giao tài liệu phục vụ công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc" ông Thắng nói.

Đây là một hồ sơ gốc vì các văn bản được đánh máy có đầy đủ chữ ký khuôn dấu cũng như bút tích xử lý công việc của các quan chức liên quan trong ngành giao thông công chánh hàng không và khí tượng lúc bấy giờ.

Sở dĩ bộ hồ sơ Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa 1955 được lưu giữ tại Huế là do cơ cấu bộ máy phân cấp của ngành giao thông công chánh lúc bấy giờ có cơ quan Quận Công chánh Bắc Trung Việt đóng tại Huế (do có văn bản ghi là Trung Việt nhưng lại có văn bản ghi là Bắc Trung Việt nên trong loạt bài này chúng tôi xin tạm gọi thống nhất tên của đơn vị này thành Quận Công chánh Bắc Trung Việt - PV). Theo đó Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa trực thuộc Trung tâm khí tượng Đà Nẵng Ty Công chánh Quảng Nam chịu sự quản lý chung của Quận Công chánh Bắc Trung Việt (đóng tại Huế).

Theo phân cấp quản lý như vậy quy trình xử lý công việc liên quan đến sửa chữa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa được Ty Công chánh Quảng Nam lập báo cáo và lập bản chiết trù kinh phí (tức hồ sơ dự toán - PV) đề xuất lên Quận trưởng Quận Công chánh Bắc Trung Việt tại Huế sau đó mới trình lên Nha Giám đốc khí tượng VN thẩm định. Sau khi thanh tra chuyên ngành về xây dựng thẩm định xong sẽ trình lên Bộ Giao thông - Công chánh để chuyển Bộ Tài chính phê duyệt kinh phí thi hành. Vì vậy bộ hồ sửa chữa Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa 1955 thông qua xử lý của Quận Công chánh Bắc Trung Việt đóng tại Huế đã được lưu trữ cho đến khi chính quyền Cách mạng tiếp quản (1975 đến nay).

Tóm lược hồ sơ

Bộ hồ sơ gồm 10 trang tài liệu (4 trang tiếng Việt và 6 trang tiếng Pháp) với nội dung đề nghị và phê chuẩn việc sửa chữa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa năm 1955. 

Nhóm văn bản tiếng Pháp gồm hai loại văn bản:

1/ Báo cáo việc sửa chữa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa của Ty Khí tượng Quảng Nam đóng tại Đà Nẵng có ký tên đóng dấu và bút phê qua từng cấp trình duyệt (gồm 3 trang văn bản);

2/ Bảng chiết trù kinh phí kèm theo báo cáo cũng do Ty Công chánh Quảng Nam lập có ký tên đóng dấu và bút phê qua từng cấp trình duyệt  (3 trang tài liệu).

Nhóm văn bản tiếng Việt gồm 4 trang văn bản có 3 nội dung như sau: Trang văn bản đầu chỉ có nội dung Tỉnh Quảng Nam công thự - Trụ sở Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa (Pattle) Iles des Paracels (trang văn bản này chỉ mang nội dung là tiêu đề của danh mục hồ sơ được lưu - PV); 2 văn bản của Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng do kỹ sư khí tượng người Pháp tên H.CECILION ký tên đóng dấu gửi Quận trưởng Quận Công chánh Bắc Trung Việt (tại Huế) và Trưởng ty Công chánh Quảng Nam yêu cầu xúc tiến việc sửa chữa Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa như đã phê duyệt. Văn bản cuối cùng là bản sao công văn của Nha Giám đốc khí tượng Việt Nam (ở Sài Gòn) gửi Trưởng khu Công chánh Huế về công tác tu bổ công sự khí tượng tại Đà Nẵng và quần đảo Hoàng Sa có nội dung điều chỉnh một số hạng mục và kinh phí tu sửa Ty Khí tượng Đà Nẵng và Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa.

 

Trang tiêu đề của bộ hồ sơ Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa 1955 (ảnh chụp lại từ tư liệu gốc) - Ảnh: B.N.L


(Còn tiếp)
Bùi Ngọc Long
(thanhnien.cm.vn/01.09.2010)


Tu sửa Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa 
 

Như đã tóm lược ở phần trước bộ hồ sơ Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa 1955 bao gồm các văn bản đề nghị và phê duyệt cấp ngân sách quốc gia để sửa chữa Ty Khí tượng tại vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam này. Theo đó kinh phí được đề nghị là 22.000 đồng.

>>  Hồ sơ Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa

Ngày 12.5.1955 Trưởng ty Công chánh Quảng Nam đóng tại Đà Nẵng kỹ sư trưởng Nguyen Ngoc Tiep (tên ghi theo tiếng Pháp không có dấu - PV) đã có báo cáo gửi các cấp lãnh đạo đề nghị cấp kinh phí tu sửa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa. Theo đó ông đề nghị cấp 22.000 đồng (kèm theo bản chiết trù kinh phí giống như hồ sơ dự toán ngày nay - PV) để sơn và quét vôi tường; xây dựng một sàn bê tông kích thước 1 7m x 1 7m để lắp đặt tháp phong - lúc - kế (thiết bị đo gió) tại đảo Hoàng Sa.

Báo cáo được đánh máy bằng tiếng Pháp tạm dịch như sau:

Bộ Giao thông Công chánh - Khu công chánh Bắc Trung Việt tại Huế - Ty Công chánh Quảng Nam; Quốc gia Việt Nam - Tài chính quốc gia - năm 1955 Chương 0.5173 - Khoản 1 - Đoạn 1.

 
Bản chiết trù kinh phí sửa chữa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa với đầy đủ chữ ký con dấu bút tích xử lý công việc của các cấp thẩm quyền liên quan (ảnh chụp lại từ tài liệu gốc)

Trích yếu: "Trao đổi giữa các phi trường dân sự Việt Nam về khu nhà của Ty Khí tượng quần đảo Hoàng Sa (Pattle). Có báo cáo của trưởng ty".

Nội dung: "Báo cáo này nhằm mục đích trình bày sự chuẩn y của các cấp lãnh đạo một bản chiết trù 22.000 đồng kèm theo đối với các công tác bảo dưỡng và những chuẩn bị khác cho tòa nhà chính của Ty Khí tượng trên đảo Hoàng Sa (Pattle). Những công việc cần thiết cho việc tu sửa những tòa nhà ở đây bao gồm: sơn và vôi quét tường; xây một bệ bằng bê tông kích thước 1m7x1m7 để dựng một tháp phong-lúc-kế".

Chúng tôi trân trọng đề nghị các cấp chuẩn y bản chiết trù kèm theo với ủy nhiệm tài chính nhằm tính khoản chi vào ngân sách quốc gia năm 1955...

Đà Nẵng ngày 12.5.1955 Trưởng ty Công chánh Quảng Nam - kỹ sư trưởng Nguyen Ngoc Tiep (ký tên và đóng dấu).

Sau khi Trưởng ty Công chánh Quảng Nam trình lên ngày 31.5.1955 Trưởng khu Công chánh Bắc Trung Việt tại Huế kỹ sư trưởng Truong Van Hue có bút phê "đã xem và trình" (ký tên và đóng dấu).

Giấy tờ được chuyển bằng đường hàng không về Sài Gòn với các bút tích và chữ ký xác nhận nhật ký hồ sơ của các bộ phận chuyên trách ngành hàng không như sau: Ngày 14.6.1955 Trưởng nha Nghiên cứu tại Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) kỹ sư Trân Ngoc Lam bút phê xác nhận (ký tên); Ngày 16.6.1955 Giám đốc Nha công tác phi trường (đánh số 55 - 1495 D/A/P) Tạ Huyến cũng có bút phê "Đã xem và chuyển việc chuẩn y kèm theo cam kết số 63 về 22.000 đồng"; ngày 18.6.1955 Tổng giám đốc hàng không dân sự là Trần Văn Của ký xác nhận (đánh số 29/R) nội dung "đã xem". Hồ sơ được chuyển cho Bộ Giao thông - Công chánh.

Sau khi nhận hồ sơ ngày 29.6.1955 Tổng thư ký Bộ Giao thông - Công chánh Nguyễn Văn Mô đã bút phê: "Đã xem và chuyển để chuẩn y".

 
Báo cáo đề nghị cấp kinh phí tu sửa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa của Ty Công chánh Quảng Nam với đầy đủ chữ ký con dấu bút tích xử lý công việc của các cấp thẩm quyền liên quan (ảnh chụp lại từ tài liệu gốc)

Kèm theo báo cáo này là bản chiết trù kinh phí số 63 trong đó liệt kê chi phí nguyên vật liệu gồm: xi măng sắt thép cát sỏi chổi sơn vôi bột màu công thợ... với tổng số tiền đề nghị được cấp là 22.000 đồng. Ngày 8.7.1955 Phòng Thanh tra các khoản chi đã kiểm tra thẩm định hồ sơ dự toán này và xác nhận "đã kiểm tra tại Phòng Thanh tra các khoản chi" Đặng Văn Khiêm (ký tên đóng dấu). Hồ sơ sau khi thẩm định được chuyển cho Bộ Tài chính. Ngày 13.7.1955 Bộ trưởng Tài chính Trần Hữu Thương phê duyệt (số công văn 432MF/APP) "xác nhận chuẩn y cho phép thực hiện".

Số tiền 22.000 đồng ở miền Nam thời điểm 1955 là một khoản kinh phí khá lớn. Theo bản dự toán kinh phí mà Ty Công chánh Quảng Nam đã lập và trình 22.000 đồng được kê chi tiết với 16 mục chi bao gồm vật liệu công thợ chi phí vận chuyển đủ để hoàn thành các hạng mục công trình. Theo đó xi măng thời giá lúc bấy giờ là 3 5 đồng/kg số xi măng cần cho công trình là 500kg trị giá 1.750 đồng.

Cứ hình dung với số tiền 22.000 đồng nhưng Ty Công chánh Quảng Nam phải báo cáo và lập dự toán đề nghị lên Bộ trưởng Tài chính phê duyệt theo danh mục chi của ngân sách quốc gia đủ thấy tầm quan trọng của công việc đến mức nào.

Bùi Ngọc Long
(
thanhnien.com.vn/02.09.2010)


Thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa  

Sau khi hồ sơ đề nghị cấp kinh phí tu sửa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa được phê duyệt ngày giờ ra đảo để tiến hành công việc đã được ấn định...

>>  Hồ sơ Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa
>> Tu sửa Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa

Chuyến hải hành "đặc biệt"

Như Thanh Niên đã giới thiệu trong bộ hồ sơ Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa 1955 ngoài 6 trang văn bản đề nghị phê duyệt kinh phí tu sửa Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa (bằng tiếng Pháp) còn có 4 trang văn bản tiếng Việt.

Theo đó có 2 công văn của Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng gửi Quận trưởng Quận Công chánh Bắc Trung Việt tại Huế đề nghị xúc tiến công việc và văn bản gửi Ty Công chánh Quảng Nam thông tin về cách thức ngày giờ đưa nhân công vật liệu ra đảo để thực thi nhiệm vụ. Cả hai văn bản trên đều do Trưởng trung tâm Khí tượng Đà Nẵng kỹ sư khí tượng người Pháp là H.Cecillon  ký tên đóng dấu.

Công văn của Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng gửi Trưởng ty Công chánh Quảng Nam ngày 29.7.1955 có trích yếu: Tu sửa Ty Khí tượng Hoàng Sa (Pattle) tham chiếu: bản chiết trù của quý ty ngày 12.5.1955 là 22.000 đồng; nội dung: "Tôi hân hạnh tin để ông biết bản chiết trù tu sửa Ty Khí tượng Hoàng Sa (đảo Pattle) đã được Bộ Tài chánh duyệt y ngày 13.7.1955 số 432MF/APP. Vậy trân trọng yêu cầu ông cho trù liệu để đến ngày 5.8.1955 có thể phái thợ mang theo thực phẩm cần thiết cho họ cùng vật liệu ra đó để tu sửa. Chuyến tàu đặc biệt này có thể khởi hành từ Đà Nẵng khoảng từ 5 đến 11.8.1955. Thời gian khoảng một tuần lễ được định liệu cho công tác này. Xong việc sẽ có một chuyến tàu đặc biệt được cử ra đảo để đón thợ về. Trân trọng kính chào ông!" - H.Cecillon Kỹ sư khí tượng (ký tên đóng dấu).


Các trang văn bản về xúc tiến công việc và yêu cầu điều chỉnh các hạng mục sửa chữa Ty Khí tượng trên đảo Hoàng Sa vào năm 1955 - Ảnh chụp lại từ tư liệu gốc

Công văn của Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng gửi Quận trưởng Quận Công chánh Bắc Trung Việt tại Huế ngày 29.7.1955 (số 715KT/DN/CV) có trích yếu: Tu sửa Ty Khí tượng Hoàng Sa (Pattle); tham chiếu: bản chiết trù lập bởi Ty Công chánh Quảng Nam ngày 12.5.1955 số tiền là 22.000 đồng; nội dung: "Tôi trân trọng tin để ông biết bản chiết trù chiếu thượng đã được Bộ Tài chánh duyệt y ngày 13.7.1955 với số 432 MF/ĐPP. Vì sự đi về đảo đó mất nhiều thể thức phức tạp và đã định liệu một chuyến tàu đặc biệt cử ra Hoàng Sa vào khoảng từ 4 đến 10.8.1955 tôi trân trọng yêu cầu ông khi bản chiết trù đó qua quý quận thông tri cho Ty Công chánh Quảng Nam phụ trách công tác đó định liệu đủ thì giờ để thi hành nhiệm vụ. Ty này đã được chúng tôi báo trực tiếp nhưng thể thức thi hành còn do nơi quý quận chuyển chính thức bản chiết trù. Trân trọng kính chào ông!" - H.Cecillon Kỹ sư khí tượng (ký tên đóng dấu).

Như vậy theo nội dung hai công văn này công việc ra đảo để tiến hành tu sửa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa đã được ấn định ngày giờ vào khoảng từ 4 đến 11.8.1955. Điểm đáng lưu ý là trong cả hai văn bản khi đề cập đến chuyến tàu "đặc biệt" đều có gạch chân cho thấy công việc ra đảo để thi công và trở về được đặc biệt chú trọng và chuẩn bị rất chu đáo khác với các chuyến hải hành thông thường.

Điều chỉnh hạng mục xây dựng

Trong bộ hồ sơ còn có bản sao công văn của Nha Giám đốc khí tượng Việt Nam ngày 16.8.1955 (số GĐ 1052/C/VL) gửi Quận trưởng Quận Công chánh Bắc Trung Việt tại Huế. Công văn có trích yếu: Công tác tu bổ công thự khí tượng tại Đà Nẵng và đảo Hoàng Sa. Trong công văn này Giám đốc Nha khí tượng Việt Nam có ý kiến như sau: "Để thích ứng với nhu cầu hiện tại bản nha trân trọng yêu cầu ông thay đổi một vài công tác trước đây đã trù liệu trong bản chiết trù công tác tu bổ công thự Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng và Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa. Thay vì đặt các tháp phong-lực-kế bản nha sẽ ráp các máy đó lên sân thượng của công thự ở Đà Nẵng cũng như ở Hoàng Sa. Như vậy việc làm một bệ xi măng 1 7m x 1 7m ở cả hai nơi đều trở nên vô ích".

Theo đó Nha Giám đốc khí tượng Việt Nam yêu cầu Quận trưởng Quận Công chánh Bắc Trung Việt tại Huế thay đổi một số hạng mục tu sửa ở Trung tâm Khí tượng Đà Nẵng và tại đảo Hoàng Sa. Riêng đối với công tác tu sửa Ty Khí tượng tại đảo Hoàng Sa theo bản chiết trù 22.000 đồng Nha Giám đốc khí tượng Việt Nam yêu cầu: "bỏ việc xây bệ xi măng của tháp phong-lực-kế (2.750 đồng) và lấy kinh phí đó để xây một trụ vuông 0 4m x 0 4m cao 1m để đặt máy nặng hiệu Campbell; gắn chân cột ăng-ten dây chằng thang chân lều máy khí tượng... Nhân dịp xin tin ông rõ chuyến tàu của hải quân Pháp sẽ khởi hành tại Sài Gòn ngày 18.8.1955 để ra Đà Nẵng và đảo Hoàng Sa". Ký tên Đo Đinh Cuong (tên riêng văn bản không có dấu - PV).

Văn bản này được Quận Công chánh Bắc Trung Việt sao để gửi cho Giám đốc Nha Công tác phi trường ở Sài Gòn mục đích đòi lại hồ sơ đã chuyển trước đây (số 4474 CC/KT ngày 6.6.1955) về lại để chỉnh sửa theo đề nghị của Nha Giám đốc khí tượng Việt Nam đồng thời sao gửi Ty Công chánh Quảng Nam ở Đà Nẵng để biết.

oOo

Bộ hồ sơ Ty Khí tượng đảo Hoàng Sa 1955 là tài liệu gốc với đầy đủ chữ ký con dấu và bút tích xử lý công việc của các quan chức liên quan trong ngành giao thông công chánh khí tượng và tài chánh đương thời cho thấy Việt Nam đã thực thi chủ quyền đầy đủ trên quần đảo Hoàng Sa lúc bấy giờ. Cùng với những tư liệu lịch sử liên quan đã công bố trước đây bộ hồ sơ này một lần nữa khẳng định Việt Nam đã thực thi chủ quyền một cách liên tục qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau trên quần đảo Hoàng Sa mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Bùi Ngọc Long
(
thanhnien.com.vn/03.09.2010)


More...

Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly

By nguyenuyenthu

NUT: Vừa qua nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật đã có cuộc hành trình dài ngày đi tìm mộ Hồ Quý Ly trên đất Trung Quốc. Giao Hưởng đã có hàng loạt bài đăng trên thanhnien.com.vn. Xét thấy đây là những thông tin thú vị xin đăng tải giới thiệu.

Tổng số tin liên quan đến Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly của Giao Hưởng đã công bố trên thanhnien.com.vn (từ ngày 10 đến 15.8.2010) gồm 07 bài: 1.Từ những giấc mộng lạ (10.8.2010.2:08) 2.Đến vùng mộ táng Lão Hổ Sơn (10.8.2010.23:07) 3.Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly: Từ Lão Hổ Sơn bùi ngùi nhìn lại (11.8.2010) 4.Lá số tử vi của Hồ Quý Ly (12.8.2010) 5.Người của những "số một" định mệnh...(13.8.2010) 6.Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly: Người được quân đội Trung Hoa phong thần (14.8.10) 7.Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly: Quán khách khôn cầm tóc trắng xanh... (15.8.2010)



Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly  Từ những giấc mộng lạ 
    
 
Nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật trên đường đi
tìm mộ Hồ Quý Ly - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Hồ Quý Ly là vị vua đầu tiên của nhà Hồ một nhân vật với những cải cách táo bạo hồi thế kỷ 14. Đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về ông song điều mà tất cả đều rõ: Hồ Quý Ly là người dấn thân vào chính trường suốt hơn 30 năm và quyết liệt chống quân Minh xâm lược. Cuối đời ông bị giặc bắt giải về Trung Quốc và mất bên ấy chưa rõ được chôn nơi nào...

Mộ ông ở đâu? Và mộ hàng nghìn người Việt Nam yêu nước phải sống xa xứ và bị đày chết bên Trung Quốc cùng Hồ Quý Ly thời ấy nay đâu? Câu hỏi nhức nhối đó từng thôi thúc các nhà sử học và khảo cổ học ở nước ta để tâm tìm kiếm. Trong đó có giáo sư Trần Văn Giáp (đã mất) và nhà khảo cổ học lão thành Đỗ Đình Truật (nay đã 80 tuổi hiện sống tại TP.HCM).

Hai vị (Trần Văn Giáp và Đỗ Đình Truật - NV) đã gặp nhau tại Quảng Tây (Trung Quốc) vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 cùng đi tìm dấu vết của mộ Hồ Quý Ly và tìm hiểu về đời sống của hậu duệ họ Hồ tại đó sau cuộc lưu đày. Vì theo sử liệu của nhà Minh Hồ Quý Ly đã mất tại Quảng Tây (cùng một số thân thuộc họ Hồ). Lúc gặp nhau để cùng tìm đến các địa điểm nghi vấn có mộ Hồ Quý Ly và con cháu họ Hồ thì giáo sư Trần Văn Giáp đã là một nhà nghiên cứu sử học ngôn ngữ học và dân tộc học nổi tiếng ở Việt Nam tuổi đã hơn 60 (sinh năm 1898). Còn nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật 30 tuổi được cử sang du học ở Trung Quốc. Họ đi khắp các địa phương đến cả Dinh tổng đốc Lưỡng Quảng tìm hiểu tàng thư cổ của Việt Nam ở Côn Minh - Vân Nam xem xét nghiên cứu kỹ các tài liệu các bản đồ sưu tập được. Công việc có thuận lợi vì lúc bấy giờ giáo sư Trần Văn Giáp đang làm việc tại các thư viện lớn ở Bắc Kinh Thượng Hải Quế Lâm nhất là vùng Quảng Tây...

... Một vài năm trước khi giặc Minh đem quân xâm lược nước ta (1406) Hồ Quý Ly đã lo tính việc tổ chức phòng vệ khá chu đáo gấp rút đào sông đắp thành xây dựng lại quân đội (...) nhưng cuối cùng thất bại. Ba cha con ông (gồm Hồ Quý Ly Hồ Nguyên Trừng Hồ Hán Thương) bị giặc bắt. Trừ Hồ Nguyên Trừng được chúng trọng dụng Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương cuối cùng đều bị hãm hại. Có thuyết nói vua Minh giả vờ cho đi làm quan rồi sai người ám sát trên đường đi. Thuyết khác nói Hồ Quý Ly không bị giết nhưng bị bắt lưu đày ở Quảng Tây phải làm lính (và chết ở đó chưa biết mồ mả nơi đâu)...

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

Dựa trên tài liệu truy cứu từ các thư viện trên hai ông Trần Văn Giáp và Đỗ Đình Truật đã đến tận những nơi cần thiết để dò xem dấu vết mộ Hồ Quý Ly cùng những người Việt bị lưu đày và chết chôn ở đó. Nhưng cuối cùng hai ông có được kết luận bất ngờ (khác với những khẳng định trước kia) rằng: thông tin Hồ Quý Ly cùng các bộ tướng thân quyến bị bắt đày đi lính và mất ở Quảng Tây là không đúng! Vậy thì mộ Hồ Quý Ly ở đâu?

Hai vị lại tiếp tục nghiên cứu tìm kiếm. Đến năm 1962 ông Đỗ Đình Truật phải về nước để chuẩn bị tham gia cuộc khai quật lớn đầu tiên tại Việt Nam (và phát hiện những hóa thạch trên vùng Lạng Sơn). Những năm sau đó mặc dù tất bật ông vẫn cất công tổng hợp tất cả các tài liệu về Hồ Quý Ly trên đất Trung Quốc trao đổi và  hỏi ý kiến giáo sư Trần Văn Giáp để chọn lọc tài liệu đối chiếu các bản đồ có trong tay ở nhiều vùng mộ chí của các dân lưu đày trên đất khách. Ông vào Thanh Hóa về thành Tây Giai - thành nhà Hồ ráp nối các điểm có thể liên quan đến dấu vết của con cháu nhà Hồ còn sót lại như Hồ Quý Công - cháu Hồ Quý Ly - trốn thoát vào đất Quảng Ngãi và có miếu thờ ở tỉnh Quảng Nam. Ông đến Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) tìm hiểu ghi chép những nội dung cần thiết trên di mộ của võ tướng Đỗ Đình Hầu người có công với nhà Hồ trong công cuộc chinh phạt quân Chiêm Thành (Chiêm Thành lúc ấy âm thầm cấu kết với nhà Minh để tạo thế gọng kìm âm mưu vây bức đất Việt). Sau ngày giáo sư Trần Văn Giáp qua đời năm 1973 ông Đỗ Đình Truật dần dần tìm thấy ánh sáng le lói qua các dấu vết và thông tin sử học từ nhiều nhà nghiên cứu có uy tín khác. Trong các thông tin đó ông "chấm dấu đỏ" vào một địa danh đáng chú ý nhất trên đường tìm kiếm: núi Lão Hổ Sơn nằm trên địa bàn thôn Kim Lăng thuộc thành phố Nam Kinh tỉnh Giang Tô. Theo ông đoán định đó là nơi có mộ của Hồ Quý Ly và gia tộc họ Hồ sau cơn quốc nạn.

Từ đó ông mong sao đến tận Nam Kinh tham cứu thực địa. Nhưng mãi sau năm 1975 lúc đã vào Nam để tiến hành các cuộc khai quật khảo cổ học mới ông vẫn chưa có cơ hội thực hiện. Đến đầu thập niên 1990 ông được cộng tác với nhiều người cùng chung chí hướng tại TP.HCM nên dự định đi tìm lăng mộ họ Hồ bên Trung Quốc lại sống dậy mãnh liệt. Nhất là như ông nói: "Suốt mấy đêm liền tôi không ngủ được hình như có sức mạnh siêu hình hối thúc tôi lên đường. Tôi linh tính cơ hội đang đến gần. Hễ chớp mắt ngủ được một lát thì có ai đó lay thức dậy bắt tôi tưởng tượng về một chuyến đi tìm mộ mà tôi chưa đủ điều kiện để sắp đặt. Không ngủ được tôi lại ngồi dậy lôi tấm bản đồ đã cũ rách vì xem quá nhiều lần ra xem đi xem lại mấy lần nữa để mắt đến khu vực thành phố Nam Kinh thuộc tỉnh Giang Tô trên bản đồ. Đó là nơi giam giữ tù binh gồm những người Việt Nam yêu nước chống quân Minh xâm lược thuở nào. Tôi nhủ thầm đâu là núi Lão Hổ Sơn đâu là thôn Kim Lăng nơi chôn những nắm xương tàn của người Việt bị đày sang và có thể là nơi hoàng đế Hồ Quý Ly an nghỉ. Tôi lại tự hỏi suốt 600 năm qua những linh hồn xa quê lạc xứ ấy phải chịu cảnh mồ hoang cỏ rậm ai là người lo hương khói cho họ? Lòng tôi quặn đau cùng cảnh ấy và tôi thề rằng quyết làm sáng tỏ sự việc mặc cho hậu thế hiểu họ sao thì hiểu...".

Không lâu sau những đêm có giấc mơ lặp đi lặp lại về cuộc gặp gỡ với những người lạ mặt mà nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật đoán là các linh hồn viễn xứ thì ông có được cơ hội để bay đến tận thành phố Nam Kinh vào năm 2004.

(Còn tiếp)
Giao Hưởng



Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly  Đến vùng mộ táng Lão Hổ Sơn 
 
Nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật (giữa) tiếp chuyện các nhà du
khảo Trung Quốc tại Nam Kinh - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Cách thành phố Nam Kinh tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) khoảng 20 cây số có một vùng núi âm u vắng vẻ với các bãi tha ma chập chùng trong cỏ dại đã trải nhiều thế kỷ mộ táng - đó là vùng Lão Hổ Sơn - nơi nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật và những cộng sự của ông đoán định có mộ cổ của vua Hồ Quý Ly.

>> Từ những giấc mộng lạ

Đến nay ông Đỗ Đình Truật cùng tất cả cộng sự vẫn còn nguyên những thao thức chưa nguôi vì tuy đến được nơi đó cách đây 6 năm (vào 2004) nhưng do vướng một số trở ngại khúc mắc nên việc khai quật và tìm kiếm vẫn chưa thực hiện thích đáng và rốt ráo được. Về việc này nhà khảo cổ học lão thành Đỗ Đình Truật thay mặt mọi người cùng chung sức trong việc tìm kiếm mộ Hồ Quý Ly tại Trung Quốc đã nói với phóng viên Báo Thanh Niên trong cuộc tiếp xúc gần đây nhất vào ngày 9.8.2010 như sau:

- Tôi đặt chân đến TP Nam Kinh vào một buổi sớm mùa thu. Thành phố này có lịch sử tạo lập ngót 2.400 năm qua nghĩa là bắt đầu từ năm 333 trước Công nguyên khi nước Sở đã thôn tính xong nước Việt và vua Sở bấy giờ là Sở Uy Vương ra lệnh xây thành Kim Lăng trên đất Nam Kinh ngày nay. Rồi trải các đời Ngô Tấn Tống Tề Lương Trần Nam Đường cho đến đời Minh có hết thảy 8 vương triều lấy Nam Kinh làm kinh đô. Kinh đô này có nhiều truyền thuyết đầy chất thơ về một loại đá hiếm có tên là đá Vũ Hoa. Đây là loại đá "đặc sản" của vùng Nam Kinh cổ kính. Người ta kể rằng xưa kia lâu lắm rồi có một dạo hoa từ đâu trên trời không biết đã rơi xuống như mưa trên vùng đất Nam Kinh. Những nơi có mưa hoa thì đất ở đó cứng lại thành đá rất đẹp trên đá in hẳn hình các bông hoa rơi thân vào đó. Loại đá ấy đã được vua đầu nhà Minh là Chu Nguyên Chương lấy xây thành quách Nam Kinh với quy mô lớn đến nay tường thành bằng đá của thời Minh vẫn còn khoảng 20 km và trở thành di tích hiếm quý của Trung Quốc. Chính đá Vũ Hoa ấy cũng có mặt ở lãnh địa Lão Hổ Sơn quanh những ngôi mộ im lìm bí ẩn mà tôi cho là mộ của con cháu họ Hồ bị quân Minh bắt từ nước Việt giải về Nam Kinh thời trước. Nhất là dưới lòng đất đồi Lão Hổ Sơn có thể còn ôm ấp tro tàn của vị vua Hồ Quý Ly từng chống quân Minh xâm lược vào ngót 600 năm trước. Trên chuyến tàu đến TP Nam Kinh vào ban đêm tôi có thời giờ hỏi thăm cô gái đã đón tôi ở nhà ga Bắc Kinh và được biết tên cô là Hồ Thị Thu Vân sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Bắc Kinh. Sở dĩ cô biết tôi đến Bắc Kinh tìm mộ Hồ Quý Ly là do gia đình cô ở VN thông báo trước vì thế cô sẵn sàng làm người tình nguyện dẫn đường cho tôi suốt chuyến đi đặc biệt này...

Ông Đỗ Đình Truật cho biết đang viết hồi ức về những năm tháng lần theo dấu vết mộ cổ Hồ Quý Ly và hậu duệ họ Hồ bị lưu đày trên đất Trung Quốc. Chúng tôi hỏi mượn để xem tập tài liệu (chưa xuất bản) ấy của ông. Ông đã vui vẻ đưa ra và đồng ý để chúng tôi trích dẫn các phần liên quan như dưới đây:

"Ngoài cô sinh viên Thu Vân trên chuyến tàu đêm đến TP Nam Kinh còn có một người khác không quen biết gì chúng tôi nhưng sau khi biết tôi là người VN sang Trung Quốc tìm mồ mả của cha ông đi làm ăn và chết ở bên này mấy trăm năm về trước anh ta tỏ ra rất cảm động và cũng tình nguyện dẫn đường cho chúng tôi. Hỏi ra rất tình cờ anh ta cũng là người họ Hồ sinh sống ở Giang Tô anh nói vanh vách về dòng họ Hồ của một số người VN lưu lạc từ rất lâu đời ở tỉnh này. Xuống tàu chúng tôi đến đồn công an địa phương sau khi nghe trình bày mục đích đi tìm kiếm người thân đã mất ở đây từ lâu đời họ đã vặn hỏi kỹ càng mới cho biết ở nguồn ngọn núi Lão Hổ Sơn thôn Kim Lăng xưa hiện còn lại một bãi tha ma hình như của người Việt chết chôn ở đó mấy trăm năm rồi. Nghe vậy cô Thu Vân rất hoạt bát thông minh đã tiếp chuyện họ bằng tiếng thổ ngữ tỉnh Giang Tô một cách trôi chảy không vấp váp một tí nào làm cho họ nhanh chóng hiểu ra sự việc lấy làm cảm động tỏ ý muốn giúp đỡ chúng tôi. Thật vậy sau đó họ cử một sĩ quan công an cấp bậc đại úy với chiếc xe cảnh sát dẫn đường phía trước đưa chúng tôi đi rời trung tâm TP Nam Kinh để chạy ngoằn ngoèo độ hai tiếng đồng hồ sau mới đến một nơi vắng người bấy giờ một đồng chí cảnh sát nói: "Đây là khu vực núi Lão Hổ Sơn - thôn Kim Lăng ngày xưa đấy". Chúng tôi bồi hồi leo lên những ngọn đồi heo hút đầy mồ mả vô chủ nằm ven những con đường mòn cỏ rậm lấp gần như hết lối đi. Nửa chừng bất giác tôi bị choáng trong giây lát và vấp ngã vào một ngọn cây nhọn hoắt bên đường tưởng đã bị thương nặng - ấy thế mà tôi không có việc gì. Mọi người thở phào nhìn tôi qua keo nguy hiểm. Rồi đó chúng tôi thấy núi Lão Hổ Sơn hiện ra trước mắt - nửa ảo nửa thật như một phần trong hiện tại - và phần kia đã chìm sâu vào quá khứ mịt mờ - với hàng trăm hàng ngàn người VN yêu nước đã gửi nắm xương tàn đó đây trên đất khách chứ có riêng gì Hồ Quý Ly đâu... Nghĩ thế mà tôi choáng".

Đọc tới đó chúng tôi hỏi ông cụ thể hơn về những người yêu nước bị quân Minh bắt mà ông đang có tài liệu tổng hợp đầy đủ trong tay. Ông đáp khi cuộc kháng chiến chống quân Minh thất bại vào giữa năm 1407 thì theo Đại Việt sử ký toàn thư tướng nhà Minh là Trương Phụ và Mộc Thạnh đã sai đô đốc Liễu Thăng và các tướng bắt Hồ Quý Ly Hồ Hán Thương Hồ Nguyên Trừng cùng các con là Triết Uông các cháu là Nhuế Lô Phạm cháu nhỏ là Ngũ Lang em là Quý Tỳ cháu gọi bằng bác là Nguyên Cửu Tử Tuynh Thúc Hoa Bá Tuấn Đình Việp Đình Hoãn cùng các tướng nhà Hồ là Hồ Đỗ Nguyễn Ngạn Quang Lê Cảnh Kỳ Đoàn Bồng đình bá Trần Thang Mông trung lang Phạm Lục Tài mang theo ấn tín giải tất cả về Kim Lăng tức Nam Kinh. Quân Minh xâm lược đã thu đất của 48 phủ và châu 168 huyện 3.129.500 hộ 112 con voi 420 con ngựa 35.750 con trâu bò 8.865 chiếc thuyền. Những con số đó là do người Minh thống kê đau xót hơn quân Minh đã mang rất nhiều sách vở ở nước ta đem về Trung Quốc cuốn nào không đem về được thì đốt bỏ. Không dừng ở đó theo tài liệu của Quỳnh Chi sau khi bắt Hồ Quý Ly về giam ở Nam Kinh nhà Minh còn ra sức vơ vét nhân tài vật lực và đã đưa về Trung Quốc hơn 16.000 người bao gồm các nhân sĩ trí thức những người thợ giỏi và gia quyến của họ. Sau này số người ấy bị phân tán đi xây thành Bắc Kinh một số chết tuyệt tích - trong đó có Hồ Quý Ly.

Nguyễn Trãi - từng làm quan dưới triều Hồ - đã tiễn cha mình là Nguyễn Phi Khanh cùng đoàn người (vua Hồ Quý Ly cùng các con và nhiều bộ tướng) bị giặc bắt giải về đất Bắc. Đến ải Nam Quan ông nghe lời khuyên của cha trở về lo việc trả nợ nước báo thù nhà. Về sau có lần đi qua cửa biển Thần Phù Nguyễn Trãi đã chạnh lòng tưởng nhớ đến Hồ Quý Ly - con người đã một thời oanh liệt từng bố phòng chống giặc nơi đây - nên làm bài thơ Quan hải có câu:

Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỷ thiên niên

(Nghĩa là: Họa phúc có manh mối không phải từ một ngày. Người anh hùng thì để hận tới mấy nghìn năm sau).

Nguyễn Anh (Danh nhân đất Việt)

                                                                                                                                                                                                  
                                                                                                                                                                                              Giao Hưởng


Hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly: Từ Lão Hổ Sơn bùi ngùi nhìn lại    

Ông Đỗ Đình Truật trên đường đi tìm
mộ Hồ Quý Ly - Ảnh: Nhân vật cung cấp

"Lặn lội sang xứ người không chỉ để tìm mộ của Hồ Quý Ly mà còn tìm nơi chôn cất của các danh nhân Việt Nam từng sống tha phương rồi chết bên ấy nữa...".

Đó là câu nói chân tình của nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật. Ông ghi lại qua bản thảo cuốn hồi ức chưa xuất bản về hành trình tìm mộ Hồ Quý Ly ở Trung Quốc lúc đến vùng Lão Hổ Sơn - như sau: "Tôi  bảo cô Thu Vân (sinh viên người Việt họ Hồ du học tại Bắc Kinh) rằng cháu hãy lấy nắm nhang đem theo đốt lên để dễ liên lạc với người đã khuất nơi đây. Cô Thu Vân nghe lời đốt mấy nén hương làn khói bốc lên nhưng không bay đi mà cứ lượn quanh tôi và cô Thu Vân. Tôi thấy đây là điềm lạ ở xứ người... Núi Lão Hổ Sơn gần sát bờ sông Trường Giang cảnh vật âm u huyền ảo với những bãi tha ma vô chủ cách nơi đô hội chỉ 20 km song hiện nay nó cũng bị quy hoạch của thành phố Nam Kinh đẽo gọt dần - nên "mất đất" nhiều số diện tích còn lại ngày càng khiêm tốn trong đó có ba quả đồi không lớn lắm và ba quả đồi ấy là một bãi tha ma đủ loại mộ phần nhiều không bia ký và tuyệt nhiên không có bóng dáng của con người lui tới rẫy cỏ chăm sóc khói hương.

Chỉ có thấy mây vờn trên các đỉnh đồi với một vài loài chim bay tới bay lui trên không gian vắng lạnh mà thôi... Trở lại việc chính là tìm mộ Hồ Quý Ly có nằm ở đó hay không. Nếu căn cứ vào Minh sử thì cha con thân thích của vua Hồ Quý Ly và các bộ tướng bị bắt một phần tù binh ấy bị đưa ra công trường để tiếp tục xây thành Giang Tô một số khác bị đưa khỏi Nam Kinh tách ra để đi xây thành Bắc Kinh. Vì lúc bấy giờ thành Bắc Kinh cũng đang được xây dựng sau này trở thành kinh đô nhà Minh. Một bằng chứng hiển nhiên của số người Việt bị bắt đi xây thành Bắc Kinh là sự có mặt của một nhân vật nổi tiếng được sử sách Trung Quốc nhắc đến là kiến trúc sư Nguyễn An".

Về bằng chứng trên gần đây trong tài liệu in thành sách với tựa Kiều bào và quê hương dày hơn 970 trang của nhiều tác giả (NXB Trẻ 2006) do Trần Bạch Đằng Dương Đình Thảo Nguyễn Ngọc Hà cố vấn biên soạn chủ biên là Viện sĩ - tiến sĩ Nguyễn Chơn Trung và TS Quách Thu Nguyệt đã chuyển tải những thông tin liên quan đến Hồ Quý Ly và những người bị bắt đày sang Trung Quốc trong đó có Nguyễn An (1381-1458) - người đã thiết kế và xây dựng Thiên An Môn ở Bắc Kinh thời nhà Minh tóm lược dưới đây:

Các bộ chính sử nước ta như Đại Việt sử ký toàn thư hay Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều không đề cập đến sự kiện này. Gần đây một soạn giả Trung Quốc là ông Trần Ngọc Long trong cuốn biên khảo nhan đề Hán văn hóa luận cương - Kiêm thuật Trung - Triều Trung - Nhật Trung - Việt văn hóa giao lưu (Luận cương về văn hóa Hán - Giao lưu văn hóa Trung Hoa - Triều Tiên Trung Hoa - Nhật Bản Trung Hoa - Việt Nam) do nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh ấn hành năm 1993 cho biết Nguyễn An chẳng những thiết kế kinh thành Bắc Kinh mà còn xây Tử cấm thành nữa cụ thể: "Thành Bắc Kinh chín cửa hai cung ba điện năm phủ sáu bộ đến việc lấp chắn các đoạn sông ở Hàn Dương thôn mọi việc đều do một mình Nguyễn An trù tính cả". Trần Ngọc Long còn dẫn bài viết của Việt Nhân nhan đề: "Nhà kiến trúc thiên tài Nguyễn An từng tham gia xây dựng Đại Bắc Kinh thời Minh" để cho biết công trình trọng điểm thời bấy giờ là xây Tử cấm thành và Hoàng thành. Tử cấm thành do Nguyễn An thiết kế nam bắc dài 960m đông tây rộng 760m trong đó có ba điện phía trước là Hoàng cực điện Trung cực điện Kiến cực điện; và ba điện phía sau là Càn thành Giao thái Khôn ninh. Chỉ trong vòng 4 năm ngắn ngủi Nguyễn An tiên sinh đã sơ bộ hoàn thành hạng mục công trình phức tạp này". Năm 1440 vua Minh Anh Tông hạ lệnh xây dựng lại ba điện Phụng Thiên Hoa Cái Cẩn thân (tức Kiến Cực điện) Nguyễn An vẫn là  người thiết kế.

 
Ông Đỗ Đình Truật với các sĩ quan công an Trung
Quốc - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Cuối cùng tác giả (Trần Ngọc Long) viết: "Nguyễn An thực là kỳ tài hiếm có trong lịch sử kiến trúc phương Đông". Sử sách còn ngợi khen: "giơ tay chỉ vạch là hình hiện lộ thế dựng lập... Mắt tinh tường ý doanh tạo đều khớp với quy chế. Khéo suy xét tính toán như thần người đời thán phục". Nguyễn An là nhân tài nước Việt ta sinh vào cuối đời Trần không rõ quê quán. Theo sử sách Trung Quốc Nguyễn An là người bẩm sinh thanh cao cứng cỏi giỏi mưu tính nhất là về việc xây dựng. Lúc Nguyễn An làm kiến trúc sư tổng thiết kế kinh thành Bắc Kinh ông chỉ mới xấp xỉ ba mươi tuổi. Để kết luận tác giả Hán văn hóa luận cương viết: "Ngày nay chúng ta chiêm ngưỡng cố cung trang nghiêm hùng vĩ tự nhiên tưởng nhớ tới nhà kiến trúc  thiên tài của Việt Nam".

Ngoài Nguyễn An còn có 130 người thợ cả giỏi kiến trúc mỹ thuật bị bắt đưa sang Nam Kinh. Họ cùng với gia quyến nhiều đời bị đày sang Trung Quốc sống tha phương ở đó chết ở đó và chôn ở đó. Để tìm hiểu sâu hơn ông Đỗ Đình Truật đến tiếp xúc với các cụ già họ Hồ sống tại thôn Kim Lăng dưới vùng đồi Lão Hổ Sơn và ghi lại qua bản thảo cuốn hồi ức của ông rằng: "Các cụ bô lão ở đây nói xưa kia theo ông bà nhiều đời truyền miệng quả là có tù binh Việt bị đày sang và chính cái gò hoang tha ma ấy là nơi mộ táng của họ. Các cụ còn chỉ chỗ này xưa kia có một ngôi mộ lớn hơn hết không biết của ai chỉ biết dân làng họ Hồ trong vùng thường đến đó cúng tế linh đình - nguyện ước gì được nấy - linh ứng lắm. Nhưng từ ngày quân Nhật tràn qua Trung Quốc đã biến nơi này thành pháo đài nên cái lăng đó bị san bằng... không còn dấu tích. Song nếu được khai quật đào sâu dưới lòng đất kia biết đâu có thể tìm thấy những chứng cứ bất ngờ về mộ Hồ Quý Ly và các bộ tướng vùi chôn dưới bãi tha ma nhiều đời nhiều kiếp nọ?".

Không phải ngẫu nhiên mà tên tuổi của Hồ Quý Ly được ghi vào từ điển bách khoa nước ngoài như một nhà cải cách lớn của Việt Nam. Tiến sĩ sử học Nga G.M.Maxlov viết: "Trước chúng ta Hồ Quý Ly đã thể hiện như một nhà cải cách một người yêu nước một chiến sĩ chống chủ nghĩa bá quyền. Ông xứng đáng có vị trí đặc biệt trong lịch sử". Hồ Quý Ly tất nhiên có nhiều hạn chế trong điều kiện lịch sử của đất nước và những hạn chế của cá nhân ông nhưng ông đã để lại những dấu ấn. Điều ông làm được điều ông chưa làm được điều đúng điều sai đều là những bài học lớn đối với đời sau...

Hồ Sĩ Giàng
(Họ Hồ trong cộng đồng dân tộc Việt Nam)

Giao Hưởng 


More...

Tranh luận nảy lửa về "lúa 3.000 năm"

By nguyenuyenthu

Các nhà khoa học thảo luận về "tính cổ" của
"lúa Thành Dền" - Ảnh: H.N
* Tiếp tục nghiên cứu để đưa ra kết luận chính xác

Hôm qua các chuyên gia đầu ngành về nông học đã tham gia hội thảo nhằm xác định "tính cổ" của những cây lúa nảy mầm từ các hạt thóc được tìm thấy ở công trình khai quật khu di tích Thành Dền và bước đầu được xem là có từ 3.000 năm trước.

Theo bà Lưu Minh Cúc - cán bộ Viện Di truyền nông nghiệp đã có kết quả phân tích bằng phương pháp sinh học phân tử sử dụng chỉ thị SSR với 50 cặp mồi đối với 2 cây "lúa Thành Dền". Theo đó phổ AND của 2 cây "lúa Thành Dền" và lúa Khang Dân 18 hoàn toàn như nhau. GS-TSKH Trần Duy Quý nguyên Phó giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp VN nói: "Chúng ta đã nghiên cứu đến "độ" rồi đó không phải là lúa cổ và nên dừng lại ở đây".

Sau phát biểu của ông Quý có thêm 2 ý kiến nữa đề xuất nên dừng nghiên cứu và có thể công bố đây là lúa cận đại. Tuy nhiên phần lớn các chuyên gia nông học và khảo cổ học cho rằng hiện nay vẫn chưa thể khẳng định. GS - Viện sĩ Đào Thế Tuấn một trong những người nghiên cứu về lúa cổ đầu tiên ở nước ta lưu ý cần phải có đầy đủ cứ liệu thì mới có thể đưa ra kết luận chính xác nhất. "Phải nhìn nhận toàn diện nếu không chúng ta sẽ giống như những thầy bói xem voi ông sờ thấy cái đuôi bảo nó là cái này ông túm được cái vòi lại bảo nó là cái kia" ông Tuấn nói.

GS Hoàng Tuyết Minh - nguyên Trưởng bộ môn Di truyền tế bào và lai xa (Viện Di truyền nông nghiệp) nhấn mạnh nói lúa cổ hay không phải lúa cổ ngay bây giờ là nói vội. "Phải so sánh đầy đủ 62 đặc điểm hình thái thì mới có thể đưa ra kết luận chính xác. Bởi vì nếu 2 cây lúa giống nhau đến 61 đặc điểm hình thái nhưng chỉ khác nhau duy nhất 1 đặc điểm thôi thì đã là 2 giống lúa hoàn toàn khác biệt rồi. Thêm vào đó cha ông ta trước kia trồng 2 vụ lúa một vụ là giống cảm quang một vụ là giống cảm ôn không thể vì lúa trổ trước tháng 10 để kết luận đó không phải là lúa cổ" GS Minh nói. Đánh giá cao nỗ lực và sự nghiên cứu nghiêm túc của các cán bộ Viện Di truyền Nông nghiệp VN nhưng GS Minh cũng cho rằng vì bị động nên nghiên cứu này chưa được đầy đủ chưa bài bản và chuẩn xác lắm.

Lúc 12 giờ 20 phút trưa các nhà khoa học mới thống nhất đề nghị tiếp tục phân tích toàn bộ đặc điểm sinh thái sinh lý sinh hóa và AND của tất cả các dòng "lúa Thành Dền" kết hợp với kết quả phân tích AMS từ Nhật Bản để có kết luận cuối cùng. Các nhà khoa học cũng đồng ý kiến nghị xây dựng đề tài nghiên cứu liên ngành (cấp bộ hoặc nhà nước) để khai quật mới thu thập thêm mẫu "lúa Thành Dền" và các nghiên cứu lúa cổ của VN.
Quang Duẩn

(thanhnien.com.vn/01.09.2010)


+ Xem thêm: Nghi vấn "lúa cổ Thành Dền" là lúa Khang Dân 
trên thanhnien.com.vn/ 28.08.2010.

More...

Người viết sử quê hương

By nguyenuyenthu

Ông là Nguyễn Văn Thiêm 17 tuổi tham gia giành chính quyền năm 1945 ở xã Hòa Phát-Hòa Vang. 18 tuổi được kết nạp vào Đảng. Là sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ở tuổi 80 ông đã hoàn thành cuốn "Lịch sử đấu tranh Cách mạng xã Hòa Phát từ năm 1930-1975". Với ông Cách mạng Tháng 8-1945 là bước ngoặt đổi đời của một dân tộc thoát khỏi gông xiềng nô lệ.

 

Ông Nguyễn Văn Thiêm vị chỉ huy Chiến thắng Bồ Bồ còn lại phát biểu trong ngày gặp mặt kỷ niệm chiến thắng trận đánh.

Không cần mở sách ông Thiêm vẫn kể rành mạch trang sử truyền thống đấu tranh của quê hương từ khi có Đảng dẫn đường mà bản thân ông là một chứng nhân của lịch sử. Ông nhớ lại những ngày đầu chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở xã Hòa Phát nay là phường Hòa Phát và Hòa An quận Cẩm Lệ. Bằng tinh thần hào sảng của một bậc lão thành cách mạng bước sang tuổi 82 ông kể: Đầu năm 1941 phát xít Nhật kéo vào đóng quân ở nhiều nơi. 2 trung đoàn lính Nhật đóng ở Phần Lăng và Bình Thuận. Chúng lấy đất đồng san lấp phá dỡ vườn tược để làm sân bay cưỡng bức nhân dân làm phu không công đánh đập hành hạ rất dã man nửa làng Đông Phước và Nghi An bị san ủi cùng nhiều cửa nhà mồ mả.


Năm 1943 các thanh niên tiến bộ ở Hòa An họp nhau tại nhà bà Trưởng Hàm thành lập "Hội Thanh niên tương ái" tiền thân của lực lượng tự vệ cách mạng sau này. Tháng 5-1945 nhiều thanh niên tích cực ở các làng được triệu tập tại nhà bà Đào Thị Phong (còn gọi là bà Thông Kim) ở Hòa An để học tập chương trình "Việt Nam độc lập đồng minh hội" (gọi tắt là Việt minh). Sau lớp học đêm 9-5-1945 số thanh niên Hòa An được kết nạp vào Chi bộ Việt minh làng Hòa An. Buổi lễ được trang trí cờ đỏ búa liềm ảnh lãnh tụ nguyễn Ái Quốc. Hai đồng chí Phạm Đình Long và Trà Chu thay mặt Huyện bộ Việt minh Hòa Vang đến dự và thừa nhận tổ chức này. Chi bộ Việt minh Hòa An ra đời từ đó do đồng chí Nguyễn Như Cân làm bí thư.

Để có tài chính cho khởi nghĩa giành chính quyền tổ chức Việt minh làng Hòa An lấy danh nghĩa lập quỹ truyền bá quốc ngữ để vận động nhân dân tham gia đóng góp tổ chức diễn văn nghệ để bán vé lấy tiền. Chỉ một thời gian ngắn tổng quỹ của Việt minh Hòa An có 1.100 đồng tiền Đông Dương. Số tiền này được đóng góp để mua sắm vải giấy mực băng cờ khẩu hiệu truyền đơn.

Đình làng Hòa An trụ sở của chính quyền cách mạng tháng 8-1945 được Nhà nước công nhận di tích lịch sử.


Kế hoạch cướp chính quyền ở tổng Phước Tường nói chung và các làng vùng Đông nói riêng phải sau tổng Bình Thái một ngày vì ở đây còn có bọn Nhật đóng tại Nghi An Đông Phước Phước Tường và sân bay. Ta chủ trương kéo biểu tình từ làng này sang làng khác chỉ tập hợp dân chúng từng làng. Khi có lệnh khởi nghĩa thì nổi trống đình họp dân chúng cho lực lượng đi bắt lý trưởng hương bộ nộp đồng triện bộ đinh điền thổ và sổ sách giấy tờ... Làng nào cướp chính quyền xong thì họp dân để bầu "Ủy ban Cách mạng lâm thời" lấy đình làng làm trụ sở chính quyền cách mạng và treo cờ đỏ sao vàng.


Ngày 17-8-1945 Ủy ban bạo động cướp chính quyền tổng Thái Hòa (gồm tổng Bình Thái và Hòa An) tập trung tại nhà đồng chí Nguyễn Thị Như đợi ở Trung Nghĩa để phân công nhiệm vụ lực lượng tự vệ vũ trang hơn 100 người được tổ chức đội ngũ và tập dượt đi đứng cũng như xử trí các tình huống suốt đêm để rạng sáng đi cướp chính quyền ở tổng Hòa An.

Sáng ngày 18-8-1945 nhân dân đổ ra đường với giáo mác gậy gộc băng cờ hò reo vang dậy. Hàng ngàn người với khí thế hùng mạnh chưa từng có hô vang: "Đả đảo phát xít Nhật và thực dân Pháp". "Việt Nam độc lập muôn năm". Tiếng hô khẩu hiệu vang dội cờ đỏ sao vàng rợp trời trụ sở chính quyền Cách mạng đông nghịt người gặp nhau ai cũng nói cười: "Đổi đời rồi" "dân chủ rồi" "Cách mạng thắng rồi"...

Ông Thiêm chậm rãi kể mà ánh mắt ngời sáng. 65 năm đã qua mà trong ông những tháng ngày sôi động ấy vẫn như còn lay động. Là một trí thức yêu nước một đoàn viên của "Hội Thanh niên tương ái" sau ngày Độc lập 2-9-1945 ông Thiêm tham gia dạy các lớp bình dân học vụ để "diệt giặc dốt". Và chỉ sau một năm độc lập 80% dân số thuộc các làng Hòa Phát bị mù chữ đã có 79% người dân biết chữ. Theo ông Thiêm đó mới thực sự là cuộc đổi đời mà Cách mạng Tháng Tám đã dành cho dân nghèo. Ánh sáng văn hóa xóa nạn mù chữ đã biến thành câu ca lời hát "Kiến quốc thành công nhờ học vụ/ Tinh thần lịch sử mở bình dân".

Tháng 2-1947 ông Thiêm được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam lúc vừa tròn 18 tuổi ông được trên phân công sang lực lượng quân sự huyện Hòa Vang. Rồi từ Chính trị viên đại đội đến Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn qua nhiều chức vụ lăn lộn khắp mọi nẻo chiến trường Nam Bộ ông là một trong những người chỉ huy còn lại của trận đánh nổi tiếng ở núi Bồ Bồ (xã Điện Tiến) đêm 19-7-1954 tiêu diệt một binh đoàn cơ động tinh nhuệ của thực dân Pháp đập tan cuộc hành quân "Con báo" trên chiến trường Quảng Nam-Đà Nẵng.

Năm 1982 ông Thiêm nghỉ hưu với cấp hàm Trung tá cùng tấm Huân chương Quân công hạng ba Nhà nước phong tặng. Ông đã dành trọn 4 năm tâm huyết nghiên cứu sưu tầm biên soạn cuốn "Lịch sử đấu tranh Cách mạng xã Hòa Phát 1930-1975". Cuốn sử không chỉ là bản anh hùng ca của Đảng bộ nhân dân hai phường Hòa Phát và Hòa An mà còn ghi đậm dấu ấn văn hóa từ thuở khai làng lập xã dưới Triều vua Lê Thánh Tông đến nay. Công trình đó là điều tâm nguyện cuối cùng mà ông gửi lại cho thế hệ con cháu mai sau. Ông vui sướng khi đình làng Hòa An trụ sở của chính quyền Cách mạng từ những ngày đầu giành chính quyền đã được Nhà nước công nhận di tích lịch sử. Riêng ông ông đã hoàn thành nhiệm vụ của một chiến sĩ Cách mạng lớp người được tôi luyện trong những ngày tiền khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.

Lê Gia Thụy

(baodanang.vn/28.08.2010)


More...

Chuyện kể về Hoàng Sa

By nguyenuyenthu

Nhân kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 chúng tôi đã gặp cụ Lê Đình Siêu nguyên Giám đốc Công an Quảng Nam-Đà Nẵng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (hiện trú tại phường Hải Châu 1) và được nghe cụ kể lại nhiều mẩu chuyện về những ngày mùa thu lịch sử ở Đà Nẵng trong đó có những chuyện về quần đảo Hoàng Sa - một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

Cụ Lê Đình Siêu.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến đầu năm 1939 Toàn quyền Đông Dương Fules Brévie ra Nghị định chia quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam) làm hai đơn vị hành chính lấy tên là Délégation du croissant etdependances và Délégation le I Amphitritite etdependances trụ sở hai đơn vị này đặt tại đảo Hoàng Sa và đảo Phú Lâm.

Bấy giờ nhà cầm quyền Trung Quốc đã có những hành động xâm phạm chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa bị triều đình Việt Nam và cả Chính phủ Pháp phản đối kịch liệt. Pháp đã gửi công hàm cho sứ quán Trung Quốc tại Paris đưa ra những chứng cứ xác định Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Báo chí trong nước cũng lên tiếng phản đối gay gắt. Cụ Huỳnh Thúc Kháng hồi đó là Chủ nhiệm báo Tiếng Dân đã dẫn nhiều tư liệu lịch sử như "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú "Cống hạ ký văn" của Trương Quốc Dụng "Việt sử cương giám" của Nguyễn Thông... để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Thời gian này phát xít Nhật điên cuồng chuẩn bị chiến tranh và năm 1939 lực lượng hải quân của chúng đã chiếm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến khi phe Đồng minh tấn công phát-xít căn cứ quân sự của Nhật đóng ở Hoàng Sa bị máy bay Đồng minh oanh tạc dữ dội. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) những nhân viên do Pháp cử ra làm việc và lính khố xanh của Pháp đóng ở Hoàng Sa đã kiếm gỗ kết thành bè trốn về đất liền.

Sau khi nhân dân Việt Nam trong đất liền nổi dậy giành chính quyền thắng lợi đồng bào ở Hoàng Sa (lúc đó có 300 người dân sống ở Hoàng Sa) liên tiếp cử 2 đoàn đại biểu vào Đà Nẵng và xin sự chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Đà Nẵng. Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố Đà Nẵng tiếp đón chu đáo và nói rõ quan điểm của Đảng Nhà nước ta coi Hoàng Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Kế đó vào tháng 4 và tháng 5-1946 Ủy ban Nhân dân cách mạng thành phố Đà Nẵng đã cử hai đoàn cán bộ ra quần đảo Hoàng Sa. Đoàn đầu tiên do kỹ sư Phan Niên-Phó ty Công chánh làm Trưởng đoàn ra làm nhiệm vụ tiếp quản. Đoàn thứ hai do Trưởng ty Cứu tế xã hội Nguyễn Đình Liệu dẫn đầu mang theo nhiều lương thực thực phẩm thuốc men để hỗ trợ cho đồng bào ở Hoàng Sa.

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp việc liên lạc giữa đất liền và Hoàng Sa có bị gián đoạn nhưng chỉ ít lâu sau đã được khôi phục lại. Đến khoảng năm 1950 Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Đà Nẵng do đồng chí Chế Viết Tấn làm Chủ tịch đã ra Quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Hoàng Sa (gồm 5 người) và giao nhiệm vụ khẩn trương tổ chức thành lập tại Hoàng Sa một trung đội dân quân chiến đấu.

Sau Hiệp định Giơnevơ chính quyền Ngô Đình Diệm đưa hải quân ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa lập Hoàng Sa thành một xã lấy tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam. Năm 1969 chính quyền Sài Sòn sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long trong đất liền (cũng thuộc quận Hòa Vang). Tháng 1-1974 quân Trung Quốc đã xâm chiếm Hoàng Sa (do quân đội Sài Gòn đang đóng giữ) và chiếm giữ trái phép Hoàng Sa từ ngày ấy. 
      
Bài và ảnh: MINH NGỌC
(Viết theo lời kể của cụ Lê Đình Siêu và đã đối chiếu với tư liệu lịch sử về Đà Nẵng


(Nguồn: baodanang.vn/19.8.2010)


More...