Chọn quốc hoa không đơn giản

By nguyenuyenthu

 >> Sen sẽ là quốc hoa?

TP - Quanh sự kiện chọn quốc hoa do Bộ VH-TT&DL khởi xướng có nhiều ý kiến trái chiều. Để rộng đường dư luận Tiền Phong đưa tiếp về vấn đề này sau bài "Sen sẽ là quốc hoa?" (số báo 169).

Thiếu nữ với hoa đào. Ảnh: Hồng Vĩnh
Thiếu nữ với hoa đào. Ảnh: Hồng Vĩnh.

Sao không là đào-sen-mai?

Ấn Độ đã chọn hoa sen làm quốc hoa và có một bề dày lịch sử văn hóa về hoa sen. Hoa sen trong tâm thức Ấn Độ (Hindu) là một thứ hoa thần thánh linh thiêng.

Về đặc điểm truyền thống văn hóa và khoa học Việt Nam không có một điểm nào có thể so được với Ấn Độ trong chuyện hoa sen.

Hoa sen có mặt trong văn hóa Việt Nam chủ yếu là do ảnh hưởng của Phật giáo với xuất xứ từ Ấn Độ. Những đặc điểm của hoa sen mà có lẽ nhiều người Việt tưởng rằng là nét riêng biệt đặc sắc của Việt Nam như kiểu "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" cũng đã có mặt trong văn hóa Ấn Độ. Nếu Việt Nam muốn chứng tỏ rằng mình là một bản sao của Ấn Độ thì lấy hoa sen làm quốc hoa.

Một điểm nữa cũng cần lưu ý là hay có nhầm lẫn hay nhập nhằng giữa hoa sen và hoa súng. Quốc hoa của Sri Lanka là hoa súng (tên khoa học là Nymphaea nouchali) chứ không phải hoa sen.

Tại sao lại giới hạn một loại hoa làm quốc hoa mà không chọn bộ hoa gồm một số loại hoa tiêu biểu. Tôi đề nghị chọn đào-sen-mai.

Bộ hoa đào-sen-mai tiêu biểu cho văn hóa ba miền Bắc-Trung-Nam của đất nước. Đặt hoa sen trong bộ đào-sen-mai tránh được sự trùng hợp với quốc hoa của Ấn Độ. Hoa đào đặc trưng cho miền Bắc hoa mai đặc trưng cho miền Nam. Hoa sen có tượng trưng cho miền Trung? Nhân đỉnh một trong chín cái đỉnh đặt ở Thái Miếu của triều Nguyễn có khắc hình hoa sen sông Hương núi Ngự cho thấy ngay từ xưa hoa sen đã là một nét đặc trưng tiêu biểu của Huế.

Vậy chọn ba loại hoa cùng làm quốc hoa có kỳ quặc không? Tôi cho rằng không. Indonesiachọn ba loại hoa làm quốc hoa. Trung Quốc chưa có quốc hoa chính thức họ cũng đang tranh luận về lựa chọn quốc hoa. 62 viện sĩ viện Hàn lâm của Trung Quốc đề nghị chọn song quốc hoa là hoa mẫu đơn và hoa mai. Bên cạnh song quốc hoa người Trung Quốc còn đề nghị chọn tứ quốc hoa (mẫu đơn-mai-cúc-súng) hay ngũ quốc hoa (mẫu đơn-cúc-mai-lan-súng).

Nếu Việt Nam chọn bộ đào-sen-mai làm quốc hoa thì sẽ đi trước Trung Quốc trong sáng tạo rằng quốc hoa không phải là một loại hoa đơn nhất.

Bộ hoa đào-sen-mai tránh được nhược điểm mà một loại hoa trong ba loại hoa này đứng riêng rẽ. So với những lựa chọn khác như tre cau... bộ đào-sen-mai có ưu thế hơn hẳn.

Đông A


 

Chuyện về sen 


1-
Ngày bé cạnh khu đồng xóm tôi mãi tận rừng sâu núi thẳm Thái Nguyên có một vùng đất lầy rộng vài hécta chỉ toàn cỏ ống cỏ bắp bợ cỏ tróc. Trâu thèm ngọn cỏ cũng không dám ngoi ra vì sẽ bị hút xuống vựa bùn khổng lồ dưới làn nước mỏng rồi không ngoi lên được. Mùa đông mặt bùn rắn lại chúng tôi có thể chạy chơi trên mặt đất lùng nhùng nhưng dưới lớp đất đó là bùn óc chó. Vùng đất có tên Đầm Sen. Lúc ấy tôi không có khái niệm gì về một loài cây một loài hoa có tên là sen. Chỉ nghĩ nó là tên đất thế thôi.

Sau này biết về sen chợt nghĩ ra có lẽ vùng này trước đây từng là một đầm sen khổng lồ.

2- Bắt đầu bay nhảy rồi có dịp đi khắp đất nước vì công việc tôi mới biết nhiều về loài hoa đẹp tuyệt này.

Sen có mặt ở khắp nơi Bắc Trung Nam.

Sen dễ sống sức chịu đựng bền bỉ.

Sen là loài hoa trọng chữ tín. Sau mùa sen tàn mặt nuớc phẳng nhưng khi những cơn gió nồm nam thổi vào đầu tháng ba thì đến hẹn lại lên những búp lá màu xanh cốm chồi từ lòng bùn tỏa hương ngào ngạt. Khoảng trung tuần tháng năm búp hoa bắt đầu trổ. Mùa sen kéo dài ba tháng kết thúc cuối tháng tám. Sen tàn lại trở về với hư không.

3- Hoa sen đẹp kiêu sa mà gần gũi. Sen quì cho hạt ăn bổ và mát. Sen bách cánh hồ Tây cho nhị để ướp ra trà sen nổi tiếng Hà thành. Đó là một giá trị văn hóa của Thăng Long có nguồn gốc từ sen mà ít người để ý.

4- Sinh thời nhà thơ Phùng Quán có bài thơ vịnh hoa sen. Sau khi ca ngợi tuyệt phẩm sen của thiên nhiên ông nhắc lại câu ca dao nổi tiếng và khẳng định câu đó không phải của dân gian mà là sự đánh tráo. Tất cả ở chữ gần- Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Theo Phùng Quán sen từ bùn kết thành nhưng trong câu thơ kia khi trở thành bông hoa rực rỡ thì chỉ nhận là gần thôi.

5- Mấy hôm nghe tin có cuộc hội thảo chọn quốc hoa cho Việt Nam khá sôi nổi. Nghe nói có đến bốn chục phần trăm chọn hoa sen dưới sen có người chọn đào chọn mai. Cá biệt có người chọn cây tre(!).Có ý kiến ngập ngừng: Liệu có cần thiết phải có quốc hoa? Có ý kiến bảo sen nở có vụ chẳng có quanh năm...

Người chọn sen thì nói sen đã đi vào văn hóa Việt lâu đời vào hoa văn họa tiết chùa chiền mà đất nước ta đạo Phật đã có thời thành Quốc giáo.

Người ngại chọn hoa sen thì lấy cớ Sri Lanca Ấn Độ đã dùng sen làm biểu tượng quốc gia mất rồi.

Theo tôi có quốc hoa càng hay. Nói đến Bulgari người ta nhớ hoa hồng nhắc hoa tuy líp người ta biết đến Hà Lan.

Riêng tôi ủng hộ hoa sen vì mấy lẽ:

-Sen có mặt ở khắp miền tổ quốc không như đào mai trắng chỉ có ở Bắc; mai vàng chỉ có ở Nam.

-Dân ta là dân lúa nước. Sen giống lúa kết hoa từ bùn đen. Lúa cho cái ăn sen cho sắc thái văn hóa. Sen cao sang mà lại bình dị gần gũi. Sen đã vào văn hóa Việt trong các trang trí không bị lẫn với bất cứ loại hoa nào.

- Cũng không lo trùng lặp mà phải nhìn ở tính phổ biến của loài sen trên đất mình ăn vào tâm thức dân Việt mình.

Vài lời bàn ngang mong chữ đại xá.

Đỗ Đức

Quốc hoa trên thế giới Hoa hồng - phổ biến nhất

Hoa hồng. Ảnh: KD
Hoa hồng. Ảnh: KD.

Hoa hồng được khá nhiều quốc gia lựa làm quốc hoa. Năm 1986 Mỹ chọn hoa hồng làm quốc hoa. Hoa hồng của nước Mỹ là loại phổ thông thấy hằng ngày. Bulgari vương quốc hoa hồng chắn chắc không lấy hoa khác làm quốc hoa. Ecuador lại chọn bông hồng xanh làm biểu tượng.

Quốc hoa của Iran cũng là hoa hồng nhưng là hoa hồng Damask - tên một loại hoa hồng. Tương tự Iraq cũng chọn hoa hồng. Maldives chọn loài hồng dại Rose Polyantha. Biểu tượng hoa chính thức của nước Anh là hoa hồng Tudor một biểu tượng gồm hoa hồng trắng trên hoa hồng đỏ. Romania cũng chọn hoa hồng làm quốc hoa - hoa hồng dại Rose canina. Slovakia Luxembourg không chọn được loài nào khác ngoài hoa hồng.

Những quốc hoa thú vị

Indonesia chọn đến 3 loại hoa làm biểu tượng quốc gia kể từ ngày 5-6-1990: Hoa nhài hoa lan hồ điệp và loại hoa quý hiếm có nguy cơ diệt chủng-Rafflesia amoldi. Tuy chính phủ Nhật Bản không chính thức tuyên bố hoa anh đào và hoa cúc được xem là biểu tượng cho xứ mặt trời mọc.

Hoa dâm bụt tên khoa học Hibiscus rosa-sinensis tiếng Mã Lai gọi là Bunga Raya bất ngờ trở thành quốc hoa của Malaysia. Canada đơn giản chọn lá phong làm biểu tượng quốc gia.

Pháp có sự nhập nhằng giữa Iris (hoa diên vỹ) và lily. Tuy diên vĩ được chọn từ lâu nhưng lily được sử dụng nhiều hơn. Tuy diên vỹ đại diện cho hoàng gia quyền lực được triều đại Louis đặt tên Fleurs-de-lis (loài hoa của ánh sáng) bắt nguồn từ Felurs-de-Louis (hoa của vua Louis). Loài diên vỹ với nhiều nước còn mang ý nghĩa tâm linh.

Thủy Trúc

  (tienphong.vn. 22/06/2010)

Xem bài liên quan:
Tìm "quốc hoa" - biểu tượng văn hóa Việt:  

tuoitre.vn/


 



 

More...

Việt Nam sẽ có "quốc hoa"

By nguyenuyenthu

Sen sẽ được chọn là quốc hoa của VN? -
ảnh: L.Q.P

Sen có thể sẽ trở thành quốc hoa theo tinh thần của cuộc hội thảo do Bộ VH-TT-DL tổ chức ngày 16.6.

Theo Cục Mỹ thuật Triển lãm và Nhiếp ảnh - cơ quan thường trực của hội thảo ngày 21.4.2010 Bộ VH-TT-DL đã có quyết định thành lập Ban chỉ đạo và Tổ biên soạn đề án quốc hoa VN chứng tỏ nhu cầu cần có một quốc hoa cho các sinh hoạt văn hóa đối nội đối ngoại.

Cũng tại cuộc hội thảo 9/10 ý kiến đều cho rằng nên có quốc hoa. Tiến sĩ (TS) Ngô Phương Lan - Cục Hợp tác quốc tế (Bộ VH-TT-DL) dẫn thông tin đã có 97 nước có quốc hoa và cho rằng việc có một loài hoa đặc trưng cho đất nước là cần thiết. Còn TS Phạm Thanh Hải - Phó chủ tịch Hội Sinh vật cảnh VN nhận xét nếu có thì quốc hoa sẽ cùng vịnh Hạ Long áo dài nón lá góp phần tôn vinh hình ảnh đất nước. Ông Hải cho biết thêm khảo sát ở một số trường đại học cho thấy 68% số người được hỏi bảo cần có quốc hoa để nâng cao niềm tự hào VN.

TS Lê Thị Minh Lý - Phó cục trưởng Cục Di sản gây chú ý khi cho rằng thông tin 97 nước có quốc hoa trên mạng internet chỉ nên để tham khảo việc tìm ra một quốc hoa cần có cơ sở khoa học và pháp lý; một số nước lớn và có nền văn hóa lâu đời như Trung Quốc Nga cũng không có quốc hoa. "Bulgaria là một đất nước nổi tiếng về hoa hồng nhưng họ vẫn chưa công nhận hoa hồng là quốc hoa. Tôi băn khoăn là quốc hoa của chúng ta có mang lại điều gì cho cộng đồng hay không và liệu chúng ta có vai trò gì hơn trên trường quốc tế" bà Lý phát biểu. Tuy nhiên ông Phạm Sanh Châu - Tổng thư ký Ủy ban UNESCO VN lên tiếng trấn an khi cho rằng quốc hoa cần thiết vì liên quan đến chính sách ngoại giao văn hóa. "Chúng ta đã nói nhiều đến vịnh Hạ Long đến nem đến phở rồi thì nay có thể là một loài hoa nào đó chẳng hạn sen nếu được chọn là quốc hoa thì trong các nghi lễ ngoại giao cứ mang sen ra trang trí để tạo ra bản sắc VN" ông Châu nói.

Trong khi đó TS Đặng Văn Đông - Trưởng bộ môn Hoa và cây cảnh (Viện Nghiên cứu rau quả) cho hay mặc dù chưa có quy định nào về quốc hoa nhưng nhiều người hiện vẫn lầm tưởng sen là quốc hoa của VN. Tham khảo trên một số website trong khoảng 130.000 ý kiến có 40 3% chọn hoa sen 33 6% chọn hoa mai 8 2% chọn đào... Tuy nhiên theo ông Đông sen cũng đã được Ấn Độ Sri Lanka chọn làm quốc hoa.

Thứ trưởng Bộ VH-TT-DL Lê Tiến Thọ cho rằng cũng như quốc phục việc có quốc hoa là cần thiết mặc dù để đạt được sự đồng thuận tuyệt đối là rất khó. Sau hội thảo này Bộ VH-TT-DL sẽ còn tiếp tục tham khảo ý kiến các nhà khoa học các nhà văn hóa để chọn ra một loại hoa chính thức để lấy ý kiến dư luận trình Chính phủ thậm chí cả Quốc hội để được thông qua một cách chính thức. Nếu mọi chuyện trôi chảy thì đề án này sẽ hoàn thành vào cuối năm nay.

Tiêu chí để chọn quốc hoa theo cơ quan thường trực của đề án có 13 tiêu chí gồm: có nguồn gốc hoặc được trồng lâu đời ở VN thích nghi và được trồng ở nhiều nơi nở hoa quanh năm thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc...

Tuy nhiên theo họa sĩ Trần Khánh Chương - Chủ tịch Hội Mỹ thuật VN hệ thống tiêu chí này hơi rắc rối mà chỉ cần một số đặc điểm: trồng lâu đời ở VN thể hiện bản sắc tinh thần dân tộc gần gũi trong đời sống và được đa số nhân dân yêu thích. Cụ thể ông Chương đề nghị chọn hoa sen bởi từ thời Lý hoa sen đã được dùng nhiều hơn nữa sen phổ biến khỏe và đẹp. "Mặt khác nếu chúng ta chọn hoa sen thì ẩn ý đằng sau hình tượng hoa sen là Bác Hồ lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc" ông Chương nói.

GS-TS Trần Duy Quý nói về sức sống của loài cây này: hạt sen sau 500 năm vẫn có thể nảy mầm mầm sen còn có thể xuyên qua đê sông Hồng.
Lưu Quang Phổ
(thanhnien.com.vn. 17/06/2010)

---------------------
Cập nhật: Bài có liên quan được đăng tải sau bài này vào ngày 19/6/2010 trên 
qdnd.vn.




More...

Nên bỏ phát ấn đền Trần?

By nguyenuyenthu

 >>Sự thật ấn Đền Trần ở Thái Bình

TP - Với những xì- căng- đan ấn tín xảy ra thời gian qua một chủ đề được bàn thảo sôi nổi ở hội nghị đó là dừng lại ở khai ấn hay tiếp tục phát ấn.

Tại lễ khai ấn đền Trần
Tại lễ khai ấn đền Trần . Ảnh: TTXVN

Giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Nam Định ý kiến: "Chuyện có tiếp tục phát ấn hay không phải xem xét vì đây là nhu cầu tất yếu của Đảng bộ và nhân dân Nam Định. Khai ấn là sản phẩm văn hóa tinh thần của các đời vua Trần. Phát ấn để úy lạo tướng lĩnh người có công.

Phát ấn để tôn vinh giá trị truyền thống khơi dậy và nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc. Còn về mặt quản lý chúng tôi tuân thủ các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Bộ VH-TT&DL. Năm nay chúng tôi làm rất tốt".

Phát biểu ngay sau đại diện Nam Định GSTS Nguyễn Quang Ngọc Viện trưởng Việt Nam học và Khoa học phát triển tỏ ra không đồng tình với việc phát ấn: "Khai ấn vốn có ý nghĩa mở đầu năm mới may mắn tốt đẹp. Mới đầu chỉ có 7 làng tham gia không quy mô như bây giờ. Còn chuyện ban lộc có lẽ mới hình thành.

Tôi nghĩ lãnh đạo tỉnh không nên can thiệp quá sâu vào việc quản lý lễ hội mang tính dân gian như thế. Không nên nhìn lễ hội dưới cái nhìn bất biến. Tiếp thu cái mới nhưng phải phù hợp với truyền thống".

Đại diện Vụ Pháp chế thì cho rằng: "Phát ấn ngày nay không mang tính truyền thống có thể coi như hiện tượng lợi dụng tâm linh hướng người ta đến mê tín dị đoan. Mà như thế là vi phạm pháp luật. Tôi không tin đây là nhu cầu tất yếu của nhân dân Nam Định. Đây là cách thu hút khách thu hút tiền. Thương mại hóa chính là đây. Gieo rắc mê tín chính ở đây tốn kém cũng ở đây mà ra. Nếu bỏ được điều này đảm bảo giảm tiêu cực".

Ngoài nạn chen lấn xô đẩy ở hội khai ấn đền Trần việc đốt hàng mã tràn lan ở các di tích lớn như đền Bà Chúa Kho Phủ Dày cũng được lật xới trong hội nghị.


Toan Toan

(tienphong.vn. 16/06/2010)

More...

Thiêng liêng Hồ Gươm

By nguyenuyenthu


ND- Hà Nội là nơi có mật độ di tích di sản văn hóa dày đặc và quý giá nhất cả nước. Quý giá thân thuộc và có tính biểu trưng cao nhất chính là Hồ Gươm.

Hồ Gươm với mầu nước xanh biếc bốn mùa với các huyền thoại với các cụm di tích như Tháp Rùa Ðền Ngọc Sơn Ðài Nghiên Tháp Bút Tháp Hòa Phong với những hàng cây đường phố đẹp nhất Thủ đô từng được ví là lẵng hoa giữa lòng thành phố là con mắt là tấm gương phản chiếu tâm hồn người Hà Nội...
Hồ Gươm xưa từng có tên là Tả Vọng Lục Thủy. Ngày Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long thấy có hòn đảo hình tròn nổi giữa lòng hồ đặt tên là núi Ngọc Tượng. Thời Trần gọi là Ngọc Sơn chính là chỗ Ðền Ngọc Sơn hiện nay.
Chắc hẳn không người Việt Nam nào lại không biết ít nhiều về sự tích Hồ Hoàn Kiếm với câu chuyện Lê Lợi được trời đất trao gươm báu để đánh quân Minh. Ðến ngày chiến thắng gươm báu được rùa thần đòi lại cất giữ sâu trong lòng hồ. Ý nghĩa sâu xa của câu chuyện này chính là trong lòng đất nước ta luôn có một thanh gươm thần diệt giặc không có kẻ thù nào xâm phạm bờ cõi xâm lược nước ta lại không bị đánh bại bởi thanh gươm báu đó. Thanh gươm báu này chính là lòng yêu nước là tinh thần đoàn kết là tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã tổng kết. Sự thật ấy đã được chứng minh qua nhiều thời kỳ lịch sử đã được khẳng định ngay từ mười thế kỷ trước bởi Lý Thường Kiệt và tinh thần Ðại Việt:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Ghi lại sự tích này khẳng định chân lý này một câu đối ở Ðền Ngọc Sơn ghi rõ:

Vạn kim bảo kiếm tàng thu thủy
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ

(Bảo kiếm ngàn vàng tàng thu thủy
Lòng trung một khối tại ngọc hồ)

Bên thanh kiếm báu Hồ Gươm còn một ngọn bút viết thơ lên trời xanh biểu tượng của một dân tộc văn hiến và yêu chuộng hòa bình.
Tháp Bút này được xây dựng bởi một người Hà Nội một sĩ phu Bắc Hà Phương Ðình Nguyễn Văn Siêu (1795- 1872). Vốn trên đảo núi Ngọc Sơn có một ngôi chùa cổ vào năm Tự Ðức thứ 18 (1865) cụ Nguyễn Văn Siêu chủ trì tu sửa tôn tạo lại to đẹp đàng hoàng hơn. Lại cho dựng Ðài Nghiên (nghiên mực) Tháp Bút và bắc cầu Thê Húc (cầu đậu ánh nắng mai) như một cầu vồng dẫn vào đền. Thật là một cảnh đẹp vô song như đôi câu đối miêu tả:

Kiều dẫn trường hồng thê đảo ngạn;
Lâu đương minh nguyệt tọa hồ tâm

(Cầu dẫn ánh hồng bờ đảo ngọc
Lầu soi trăng sáng giữa hồ trong)

Cũng như các đền chùa khác ở Việt Nam Ðền Ngọc Sơn cũng có tính chất "hợp tự" là thờ thần Phật thờ các vị anh hùng dân tộc mà tiêu biểu là Trần Hưng Ðạo. Trong đền có câu đối Nôm:

Vũ lược luyện hùng binh Lục thủy nghìn thu ghi sử Việt
Văn tài mưu thượng tướng Bạch Ðằng một trận phá quân Nguyên

Hồ Gươm là nơi hội tụ khí thiêng của trời đất và lòng người. Ngày Tết và những dịp lễ trọng của Hà Nội của đất nước; nhân dân bốn phương đều về Hồ Gươm để chào đón năm mới tham gia các sự kiện lịch sử. Du khách nước ngoài đến Việt Nam không ai không đến Hồ Gươm. Các thi nhân nhiều người có thơ về Hồ Gươm. Tôi nhớ Vũ Hoàng Chương:

Hồ Gươm sóng lụa bờ tơ liễu
Hàng Trống Hàng Khay rộn bước người
Sách vở lên hương trầm ngát nẻo
Hoa xoan hoa phượng chói màu tươi...

Có người từng nói: Ai được sống làm việc ở đây được ngày ngày nhìn thấy Hồ Gươm đó là người hạnh phúc. Quả vậy. Khi lòng ta lo buồn đến trước hồ xanh được bình tâm trở lại. Hồ xanh liễu biếc luôn khơi gợi lòng yêu đời yêu người. Hồ Gươm một tờ thơ mở; một trang sử thâm nghiêm. Nếu Thăng Long- Hà Nội là nơi lắng hồn núi sông ngàn năm thì Hồ Gươm chính là nơi lắng hồn của Thăng Long - Hà Nội.
Hồ Gươm thiêng liêng. Hồ Gươm là nơi mỗi lòng dân Việt trân trọng giữ gìn...

Nguyễn Sĩ Ðại
(nhandan.com.vn. 11/06/2010)


More...

"Huyền sử thiên đô" - thêm một phim về Lý Công Uẩn

By nguyenuyenthu

Một cảnh quay Huyền sử thiên đô ở Mai Châu
- Ảnh: Đoàn phim cung cấp

Những tưởng các dự án phim lịch sử kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long đã được "khóa sổ" bởi thời gian từ nay đến ngày đại lễ còn rất ngắn nhưng bất ngờ đầu tháng 5 qua bộ phim truyền hình dài 70 tập Huyền sử thiên đô được khởi quay.

Huyền sử thiên đô thể hiện quãng thời gian từ năm 1004 đến 1009 trong cuộc đời Lý Công Uẩn gắn với những biến động của triều đình và đất nước. Và nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn trở thành tác giả kịch bản của cả hai phim truyền hình dài tập đề tài lịch sử được thực hiện để phát sóng dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long: Thái sư Trần Thủ Độ Huyền sử thiên đô. Thanh Niên đã có cuộc trao đổi với anh xung quanh bộ phim này.

* Thưa anh việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La trong lịch sử diễn ra vào năm 1010 vì sao chuyện phim lại dừng lại ở năm 1009?

Huyền sử thiên đô do Công ty cổ phần Sao Thế Giới đầu tư nhà sản xuất là Hãng phim truyện I và Công ty cổ phần sản xuất Phát Nam Thiên; hai NSƯT Phạm Thanh Phong và Đặng Tất Bình đồng đạo diễn với sự tham gia của các diễn viên Công Dũng (Lý Công Uẩn) Trung Dũng (Lê Long Đĩnh) Bebe Phạm (Giáng Bình vợ Lý Công Uẩn) Hà Xuyên (Minh Đạo Hoàng hậu)... Bộ phim sẽ phát sóng 20 tập đầu từ tháng 10.2010 trên kênh VTV3.
- Kịch bản không tập trung thể hiện việc dời đô mà tôi muốn lý giải và thể hiện quá trình dẫn tới việc dời đô. Lý Công Uẩn sau nhiều lần ra Đại La với tầm nhìn của mình đã thấy sự cần thiết phải dời đô và ông luôn ấp ủ ý định này trong quá trình làm quan cho nhà Lê (đây cũng là quá trình thể hiện tài năng đức độ tính cách của Lý Công Uẩn) nhưng vua Lê Đại Hành lúc còn sống và cả Lê Long Đĩnh khi lên ngôi đều chỉ muốn ở lại Hoa Lư - nơi họ coi là đất thiêng của họ Lê. Năm 1009 là năm Lý Công Uẩn lên ngôi khi đó người xem có thể hiểu là Lý Công Uẩn sẽ thực hiện khát vọng của mình. Thêm vào đó nếu thể hiện việc dời đô trên phim tôi e là sẽ trùng với một số bộ phim khác về Lý Công Uẩn đã và đang được triển khai và cũng sẽ gây tốn kém thêm cho đoàn làm phim.

* Như vậy Lê Long Đĩnh - một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh luận thời gian qua - cũng sẽ là nhân vật quan trọng của phim?

"Chúng tôi đang quay rất khẩn trương. Đoàn phim có một trường quay ở Cổ Loa. Nhiều gương mặt mới xuất hiện trong dàn diễn viên 127 người cho hơn 60 nhân vật chính phụ có tên và cũng ngần ấy nhân vật không tên. Tôi không sợ bị chê nhưng chê không chuẩn không đúng là tôi... la làng đấy và không nể phục đâu. Thế hệ đạo diễn chúng tôi làm phim lịch sử có thể chưa hay thì con em chúng ta phải làm hay để không phải xấu hổ với phim lịch sử Hàn Quốc Trung Quốc" - đạo diễn Đặng Tất Bình.

Trần Tùng Linh (ghi)

- Đúng vậy! Tôi đã đọc nhiều sách vở viết về nhân vật này và cảm thấy có nhiều điểm chưa thỏa đáng. Chẳng hạn có sách viết rằng vị vua này hoang dâm vô độ mà bị bệnh trĩ do đó không thể ngồi thiết triều mà cứ phải nằm. Có chút hiểu biết về y học sẽ biết rằng bệnh trĩ không thể là hậu quả của sự hoang dâm vô độ. Hơn nữa trong 4 năm làm vua thì ông đã nhiều lần thân chinh cầm quân đi đánh dẹp các nơi người chỉ nằm một chỗ làm sao làm được việc ấy? Sách nói rằng Lê Long Đĩnh róc mía trên đầu sư tàn phá đạo Phật vậy tại sao chính ông đã sai người sang Trung Quốc xin kinh Đại Tạng về; và ông vẫn dùng Lý Công Uẩn - người xuất thân là một Phật tử?... Tôi đã thể hiện một Lê Long Đĩnh vẫn có sự tham quyền tàn ác háo sắc nhưng cũng là người biết trọng nghĩa và nhìn ra tài năng kẻ khác. Tôi cũng cố gắng lý giải hành vi giết anh (vua Lê Trung Tông) và việc "phải nằm một chỗ" của Lê Long Đĩnh theo cách của mình. Có thể người xem sẽ thấy phim có những tình tiết không giống với trong sách vở nhưng lại hợp với logic của nhân vật và câu chuyện.

* Trước Huyền sử thiên đô đã có ít nhất 3 dự án phim về Lý Công Uẩn đã và (được tuyên bố) sẽ triển khai nên bị một số người kêu là "bội thực Lý Công Uẩn". Anh cảm thấy thế nào khi chấp bút cho một kịch bản nữa về Lý Công Uẩn?

- Ở Trung Quốc riêng về Tào Tháo đã có 87 phim riêng Võ Tắc Thiên đã có 6 phim truyền hình dài tập. Điều quan trọng là mỗi phim có cách thể hiện cách lý giải nhân vật riêng và không hề giống nhau. Hơn nữa gọi là "nhiều" phim Lý Công Uẩn nhưng đã có phim nào ra mắt đâu chưa được xem phim nào thì sao đã bảo là "bội thực"?


Phạm Thu Nga
(thực hiện)
(thanhnien.com.vn. 01/06/2010 )


More...

Cấy hạt thóc 3.000 năm

By nguyenuyenthu

Sáng 25/5 sau hơn hai tuần nảy mầm thành mạ những hạt thóc đầu tiên phát lộ từ tầng đất có niên đại 3.000 đã được cấy. Vỏ trấu của những hạt này sẽ được mang ra nước ngoài xác định niên đại.
> Thóc 3.000 năm được bảo vệ đặc biệt vì nắng nóng

Những khay nuôi cấy "thóc 3.000 năm" được bảo vệ trong hai lớp lồng lưới sắt. Sau hơn hai tuần nảy mầm những cây mạ đã đủ điều kiện để cấy.
Ông Lê Duy Hàm - Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp (trái) trao đổi với chuyên gia của Viện trước khi những cây mạ bước sang giai đoạn cấy. Ông Hàm là một trong những người đầu tiên tiếp xúc với hạt thóc 3.000 năm" lúc vừa nảy mầm đồng thời hỗ trợ đoàn khảo cổ trong việc chăm sóc nuôi cấy.
Vượt qua những ngày nắng nóng vào tuần trước những hạt thóc đã nảy mầm và cao tới 20 cm đủ điều kiện để mang đi cấy.
Cây mạ có bộ rễ dài hơn 10 cm khỏe khoắn.
Trước khi cấy mạ sẽ được tách vỏ trấu.
Vỏ có màu nâu tối...
Theo ông Lê Duy Hàm việc xác định niên đại vỏ trấu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng là mấu chốt để chứng minh tuổi thọ của những hạt thóc phát lộ ở tầng đất của văn hóa Đồng Đậu. Tuy nhiên ông Hàm cũng cho rằng xác suất những hạt thóc này có tuổi thọ 3.000 là rất thấp.
Gốc mạ đã tách vỏ trấu.
Mỗi cây được cấy vào một xô riêng biệt đánh số theo dõi.
Theo tiến sĩ Phạm Xuân Hội người trực tiếp chăm sóc các cây mạ những ngày qua đợt này Viện chỉ cấy 4 cây. Dự đoán khoảng 5 tháng nữa những cây lúa này mới cho thu hoạch.
Mỗi vỏ trấu cũng được đánh số riêng. Tiến sĩ Lâm Thị Mỹ Dung cho biết bà sẽ tiếp tục bàn bạc với Viện Di truyền nông nghiệp liên hệ phòng thí nghiệm để xác định niên đại vỏ trấu.
Dự kiến các mẫu này sẽ được mang đi kiểm định bằng phương pháp AMS phương pháp xác định niên đại của các hiện vật hiện đại và chính xác nhất hiện nay ở nước ngoài. Để xác định được chính xác niên đại của hạt lúa này các nhà khoa học sẽ cần khoảng 5-6 tháng để làm các xét nghiệm.
Nguyễn Hưng
(vnexpress.net. 25/5/2010)

 

More...

Xem nghệ nhân Đông Sơn biểu diễn đúc trống đồng tại Đà Nẵng

By nguyenuyenthu

(ĐNĐT) - 2 trong số 100 chiếc trống đồng dâng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đã được các nghệ nhân Đông Sơn (Thanh Hoá) đúc biểu diễn tại Đà Nẵng

Sau lễ khai mạc vào tối 19-5 khách tham quan đến với Festival "Làng nghề Việt 2010" (tổ chức tại Công viên 29-3 Đà Nẵng) sáng 20-5 đã được chứng kiến một hoạt động hết sức đặc sắc: Biểu diễn đúc 2 chiếc trống đồng bằng phương pháp thủ công truyền thống Đông Sơn trong dàn trống 100 chiếc dâng lên Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Dàn trống đồng do các nghệ nhân Đông Sơn đúc

Tham gia biểu diễn có 2 tổ nghệ nhân (thuộc Liên chi hội di sản văn hóa Lam Kinh và Hội Cổ vật Thanh Hóa) đến từ xã Đông Tiến (huyện Đông Sơn) do nghệ nhân Thiều Quang Tùng làm tổ trưởng và từ phường Đông Vệ (TP Thanh Hóa tỉnh Thanh Hóa) do nghệ nhân Nguyễn Minh Tuấn làm tổ trưởng mỗi tổ 7 người. Đúng 9h sáng lễ chập lò đã được tiến hành với nghi thức rước lửa thiêng từ nhà sàn Bác Hồ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh Quân khu 5) về và kính cáo Thần Trống Đồng.

Ngay sau đó các nghệ nhân bắt tay vào công đoạn nấu đồng đúc trống. Theo nghệ nhân Thiều Quang Tùng hai chiếc trống được đúc lần này thuộc cỡ trống trung có đường kính mặt trống 60cm chiều cao 48cm mô phỏng theo kiểu dáng và hoa văn của trống đồng Ngọc Lũ. Mỗi chiếc trống cần khoảng 50 - 55kg đồng cùng một số kim loại khác như thiếc chì kẽm...

Dưới cái nắng gay gắt lên tới 37 - 38 độ cộng thêm sức nóng tỏa ra các lò lửa bốc lên phừng phực khiến bầu không gian chung quanh cũng hầm hập như muốn bị nung chảy theo. Điều đó khiến công việc đúc trống vốn đã nặng nhọc lại càng vất vả hơn. Tuy vậy các nghệ nhân vẫn làm việc rất hăng say với sự tập trung cao độ.

Không chỉ các nghệ nhân mà khách tham quan cũng chảy mồ hôi ròng ròng nhưng đều rất chăm chú thưởng thức các công đoạn đúc trống với đầy vẻ ngưỡng mộ vì với không ít người đây là lần đầu tiên trong đời được chứng kiến tận mắt cảnh đúc chiếc trống đồng đã đi vào huyền thoại của dân tộc bằng những phương pháp thủ công đã có từ hàng ngàn năm trước.

Cuộc biểu diễn đúc trống diễn ra trong khoảng 120 phút nhưng theo nghệ nhân Thiều Quang Tùng thì từ khâu làm khuôn đến khi hoàn thiện chiếc trống phải mất đến khoảng hai tháng trong đó tốn nhiều thời gian nhất là khâu làm khuôn chọn đồng và pha trộn nguyên liệu theo những tỷ lệ riêng để cho ra những âm sắc riêng biệt của mỗi chiếc trống trước khi đưa vào lò nung.

Nấu đồng

Sau đó đổ tro vào nồi đồng lỏng...

Và nén kỹ để giữ nhiệt ngăn tạo thành màng mỏng trên bề mặt nồi đồng do tiếp xúc với nhiệt độ thấp ở bên ngoài. Đồng thời tro cũng sẽ hấp thụ xỉ đồng nổi lên trên để khi đổ vào khuôn thì chỉ có đồng nguyên chất

Chuyển nối đồng tới nơi đặt khuôn đúc

Tổ của nghệ nhân Thiều Quang Tùng dùng ròng rọc để đưa nồi đồng lên...

... và đổ vào khuôn

Còn tổ của nghệ nhân Nguyễn Minh Tuấn dùng sức người đưa nồi đồng lên

và đổ vào khuôn

Sau vài phút bắt đầu tháo dỡ đai gỗ bên ngoài khuôn đúc

Đục khuôn đúc bằng đất sét để lấy sản phẩm ra

Nghệ nhân Thiều Quang Tùng cho hay hiện có hơn 50 chiếc trống đồng trong dàn trống 100 chiếc dâng lên Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đã được đúc xong. Dự kiến đến trung tuần tháng 8 thì công việc sẽ hoàn tất. 19 chiếc trong số này được đưa ra trưng bày tại Fetival "Làng nghề Việt 2010" để khách tham quan thưởng lãm. Đặc biệt trong đó có chiếc trống đại có đường kính mặt trống 100cm cao 79cm khắc hoạ 1.000 con rồng. Đà Nẵng cũng là địa phương đầu tiên trong cả nước được vinh dự thưởng lãm chiếc trống này.

Chiếc trống đại khắc hoạ 1.000 con rồng
 
Và 19 trong số 50 chiếc trống đồng đã hoàn thiện chuẩn bị dâng lên Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đang được trưng bày tại Festival "Làng nghề Việt 2010"

Festival "Làng nghề Việt 2010" do Tạp chí chuyên đề Đô thị - Phát triển tổ chức có chủ đề "Hội tụ và phát triển" với sự tham gia của hơn 60 làng nghề truyền thống ở Bắc Trung Nam và trên 100 gian hàng thủ công mỹ nghệ. Trong 5 ngày (từ 19 đến 23-5) sẽ diễn ra các hoạt động trưng bày biểu diễn dệt thổ cẩm dệt chiếu làm gốm chạm khắc gỗ viết tặng thư pháp trò chơi dân gian... Bên cạnh đó là hội thảo "Thực trạng và những giải pháp hỗ trợ kích cầu làng nghề Việt" và cuộc thi "tác giả tác phẩm và các sản phẩm đặc trưng của làng nghề từng địa phương".

Cẩm An

(baodanang.vn. 21/5/2010)

More...

Bi hùng Hoàng Sa

By nguyenuyenthu

  
Lễ rước linh vị các hùng binh Hoàng Sa từ Âm Linh tự về đình làng An Vĩnh - nơi các hùng binh giong thuyền ra Hoàng Sa từ hàng trăm năm trước - nh: Hiển Cừ

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa là một phần máu thịt của người dân đảo Lý Sơn được lưu truyền và bảo tồn từ hàng trăm năm nay để tri ân các bậc tiền nhân đã hy sinh vì lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc nơi Hoàng Sa.

Hôm nay 29.4 13 tộc họ ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) long trọng tổ chức lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa. Lễ hội này là một phần máu thịt của người dân đất đảo được lưu truyền và bảo tồn từ hàng trăm năm nay để tri ân các bậc tiền nhân đã hy sinh vì lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc nơi Hoàng Sa.

Giong buồm đi mở cõi

Theo tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ - Giám đốc Sở VH-TH-DL Quảng Ngãi - chưa có một lễ hội nào ở nước ta lại mang tính đặc biệt vừa bi tráng nhưng cũng rất đỗi thành kính thiêng liêng như lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn. Qua lễ hội này mọi người sẽ gặp lại một Hoàng Sa oanh liệt và kiêu hùng từ hàng trăm năm trước. Trên những chiếc thuyền nan mỏng manh những hùng binh Hoàng Sa đã giong buồm vượt trùng dương mở mang bờ cõi.

"Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa là một lễ hội mang ý nghĩa hết sức đặc biệt của người dân Lý Sơn - cái nôi của đội hùng binh Hoàng Sa trong việc khai thác thực thi chủ quyền vùng biển đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Lễ Khao lề không chỉ tri ân các tiền nhân mà còn khơi dậy lòng tự hào dân tộc đối với các thế hệ người VN góp phần giữ gìn vùng biển đảo của Tổ quốc và phát triển kinh tế biển. Do vậy cần nâng lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa thành lễ hội của quốc gia
Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã - Ủy viên Ban chấp hành Hội Khoa học lịch sử VN

Ngay từ đầu thời Chúa Nguyễn tại vùng cửa biển Sa Kỳ thuộc các xã An Vĩnh An Kỳ (huyện Sơn Tịnh) và An Hải nay là xã Bình Châu (huyện Bình Sơn) và đảo Lý Sơn hằng năm có 70 binh phu được tuyển chọn đi Hoàng Sa tìm kiếm hải vật sản vật để về dâng nộp cho triều đình và tuần phòng trên biển Đông. Đội Hoàng Sa cũng đã hoạt động liên tiếp sang đến thời Tây Sơn với những cai đội nổi tiếng như Phú Nhuận hầu Võ Văn Phú Hội Nghĩa hầu Võ Văn Khiết. Sang thời nhà Nguyễn cũng đã cho lập các đội thủy quân để cùng với Đội Hoàng Sa và Đội Quế Hương đi Hoàng Sa Trường Sa cắm mốc dựng bia chủ quyền lập miếu đo đạc thủy trình lập bản đồ bảo vệ lãnh hải của Tổ quốc.

Hành trang mà những binh phu đi Hoàng Sa thời ấy ngoài lương thảo họ còn mang theo 7 sợi dây mây 7 nẹp tre một đôi chiếu và một tấm thẻ bài được khắc tên họ bản quán của người lính nếu chẳng may người lính nào hy sinh trên biển họ sẽ được đồng đội bó xác lại và thả trôi xuống biển cả mênh mông với hy vọng khi dạt vào đất liền người dân sẽ biết tung tích họ để đưa về bản quán. Song qua hình ảnh những ngôi mộ gió hiện hữu trên Lý Sơn người đời sau đã kịp nhận ra không mấy chiếc thẻ tre quay về làng cũ.

"Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa". 

Câu ca trên đã xuyên qua mấy thế kỷ để song hành cùng hai vạn dân trên đảo dù mỗi lần đọc lên là một lần nghe quặn lòng. Câu ca đã hàm chứa một sự hy sinh cao cả của nhiều thế hệ cư dân trên hòn đảo này để Tổ quốc có một dải-cát-vàng-Hoàng-Sa từ hàng trăm năm trước.

Tri ân các bậc tiền nhân

Không phải đến lễ Khao lề thế lính lần này người dân Lý Sơn mới có cơ hội "gặp lại Hoàng Sa" mà từ rất lâu rồi Hoàng Sa luôn thức ngủ trong lòng hai vạn dân Lý Sơn mỗi dịp "khao lề" vào tháng hai tháng ba âm lịch. Lễ hội này không chỉ mang ý nghĩa giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn ghi nhớ công ơn của tiền nhân đã hy sinh vì lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc niềm tự hào về một vùng đất giàu truyền thống văn hóa mà còn có giá trị lịch sử đặc biệt trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước hôm nay và mai sau.

Hôm nay những người mẹ người bà trên đảo Lý Sơn không có một chút ký ức nào về những lần tiễn con ra trận nơi Hoàng Sa song những thứ lương khô mà tổ tiên họ đã từng chuẩn bị cho con em ra trận từ mấy trăm năm trước vẫn được truyền đời chúng đã hiện hữu trên từng mâm cỗ trong ngày giỗ lính Hoàng Sa này. Đó là một sự tiếp biến văn hóa mang tính tâm linh từ trong máu huyết mà không cần bất cứ một sự "dạy dỗ" nào. Phải có một tình yêu thật thẳm sâu về sự hy sinh lớn lao của tiền nhân thì hậu thế mới "giữ lửa" được đến như vậy. Nhìn vào mâm cỗ cúng là có thể gặp lại không khí của những cuộc tiễn đưa mà cha ông ta đã từng can dự mỗi lần ra trận nơi Hoàng Sa. 

Suốt mấy mươi năm chiến tranh và cũng từng ấy năm sống trong hòa bình nhưng nghèo khó người dân Lý Sơn có một nỗi khao khát cháy lòng đó là việc phục dựng lại đình An Vĩnh. Ngôi đình đã từng chứng kiến hàng trăm cuộc tiễn đưa của lính Hoàng Sa bị thực dân Pháp xóa sổ vào năm 1946. Đến nay ngành văn hóa đã phục dựng lại nguyên hiện trạng ngôi đình trên chính nền đất cũ. Một lễ rước linh vị những hùng binh Hoàng Sa từ Âm Linh Tự về nhập điện ngôi đình này được cử hành trang nghiêm trong ngày "tế lính". Cụ Võ Hiển Đạt 78 tuổi người "trông giữ" Âm Linh Tự từ hàng chục năm qua bộc bạch: "Bắt đầu từ hôm nay linh hồn của những người lính Hoàng Sa từng gửi thân xác giữa biển cả sẽ có chỗ để đi-về. Như thế dân Lý Sơn toại nguyện lắm rồi".

Cột mốc biên cương

Cầu siêu cho các binh phu đã ngã xuống vì Tổ quốc

Lễ cầu siêu do các tăng ni phật tử trong huyện đứng ra tổ chức hôm qua không chỉ tri ân mà còn ngợi ca tinh thần hy sinh của những binh phu đã ngã xuống để mở cõi bảo vệ vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc với một bài văn tế chiến sĩ Hoàng Sa đầy xúc động: "Biết mấy phen thề non hẹn biển quyết một lòng chiến đấu đến cùng xót thương thay những chiến sĩ tuân mệnh triều đình bảo vệ lãnh hải trên quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa đã xả thân vì Tổ quốc son sắt một lòng ngang dọc chí nam nhi phong ba vùi dập tuyết sương chẳng quản mưa gió chẳng sờn thề quyết bảo vệ biên cương bờ cõi...".

Lễ khao lề với những nghi thức đặc thù của văn hóa dân gian biển đảo lại được tưới tắm bởi tinh thần "cưỡi sóng đạp phong ba" của những hùng binh Hoàng Sa là dịp du khách hình dung về nỗi gian truân mà binh phu Lý Sơn đã ra đi trên những chiếc thuyền nan mỏng manh như thế nào để đặt chân lên Hoàng Sa suốt mấy trăm năm không một lần ngừng nghỉ. Đó là lễ hoa đăng với hàng ngàn ngọn nến tượng trưng cho những người lính đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa cùng với lễ thả thuyền thế lính Hoàng Sa với 5 chiếc thuyền câu tượng trưng cùng những hình nhân thế mạng được các nghệ nhân gọt giũa hết sức công phu khắc họa những binh phu đang kéo neo tát nước buông buồm vượt sóng gió ra khơi được thả xuống biển - ngay tại địa điểm mà từ hàng trăm năm trước các hùng binh đã đi ra Hoàng Sa. 

Ông Trương Bình ở thôn Đông xã An Hải - nghệ nhân gọt giũa hình nhân - giải thích: "Theo quan niệm của ngư dân đất đảo những hình nhân ấy sau khi được thầy cúng "yểm" vào những người sắp ra Hoàng Sa làm quân vụ biên phòng đã có kẻ thế mạng mình nên yên tâm lên đường. Cùng với đình làng An Vĩnh - nơi lưu giữ dấu tích của Đội Hoàng Sa mọi người còn "gặp lại Hoàng Sa" với nhiều hình ảnh và hiện vật liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa của VN qua cụm tượng đài "Hùng binh Hoàng Sa" gồm 3 nhân vật đều cao 4 5m nặng 40 tấn. Người đứng giữa là cai đội mặc trang phục triều đình tay chĩa thẳng phía trước tay kia đặt lên cột mốc khắc dòng chữ "Vạn lý Hoàng Sa". Hai nhân vật còn lại một ở trần vác lưới một người mặc áo chùng. Sau lưng tượng đài khắc dòng chữ "Bản quốc hải cương Hoàng Sa xứ tối thị hiểm yếu" nghĩa là "Quần đảo Hoàng Sa là vị trí cực kỳ hiểm yếu nơi biên giới quốc gia".

Bước vào nhà trưng bày những hiện vật hình ảnh về Hoàng Sa-Trường Sa tại xã An Vĩnh thế hệ trẻ cũng sẽ hình dung được khúc ca bi tráng của những hùng binh Hoàng Sa năm xưa đã ra đi bảo vệ bờ cõi biên cương của Tổ quốc như thế nào với chiếc thuyền câu vừa được nghệ nhân Võ Hiển Đạt phục dựng cùng các hiện vật như chiếu cói dây mây đòn tre thẻ bài dụng cụ sinh hoạt của người lính... Đặc biệt một tờ lệnh quý được ban hành ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (Giáp Ngọ - 1834) liên quan đến chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của VN còn nguyên vẹn nhất từ trước đến nay được gia tộc họ Đặng ở huyện đảo Lý Sơn gìn giữ ngót gần 200 năm qua hiến tặng cho Nhà nước như là một bằng chứng khẳng định rõ ràng chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN. Ông Đặng Lên - người thay mặt tộc họ Đặng đã hiến tặng tờ lệnh cho Nhà nước - thổ lộ: "Nhắc đến Hoàng Sa người dân đất đảo Lý Sơn luôn tự hào vì đó là vùng đất mà cha ông chúng tôi đã khai phá. Và hôm nay Hoàng Sa là máu thịt là nhà của ngư dân đất đảo". 

Quần thể di tích còn có mộ gió của các thủ lĩnh nổi tiếng được vua trực tiếp giao việc ra Hoàng Sa đo đạc hải trình và cắm mốc chủ quyền quốc gia như khu mộ gió của cai đội Phạm Quang Ảnh cai đội Võ Văn Khiết Nguyễn Quang Tám. Đất Lý Sơn như là một bảo tàng với nhiều bằng chứng về chủ quyền của VN nơi Hoàng Sa cả văn hóa phi vật thể và vật thể. Tất cả những bằng chứng ấy đã hóa thành cột mốc biên cương của Tổ quốc ở nơi trùng khơi lưu giữ mãi trong lòng triệu triệu người dân luôn ghi nhớ công ơn các bậc tiền nhân.


Hiển Cừ - Trà Sơn
(thanhnien.com.vn. 29/04/2010)


More...

Tổ chức trọng thể Lễ Dâng hương tưởng niệm các vua Hùng

By nguyenuyenthu

 


NDĐT - Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng theo nghi thức cấp quốc gia đã diễn ra tại Khu Di tích lịch sử Đền Hùng thuộc xã Hy Cương thành phố Việt Trì (Phú Thọ) ngày 23-4 (tức 10-3 âm lịch).

* Chúc văn Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội đền Hùng 2010

Tham dự Lễ dâng hương Giỗ Tổ Hùng Vương năm Canh Dần 2010 có Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết  Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên; Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm; Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Tuấn Anh; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng thành viên Ban Tổ chức; đại diện các bộ ban ngành đoàn thể Trung ương lãnh đạo Tỉnh ủy- HĐND- UBND - Ủy ban MTTQ tỉnh Phú Thọ và 8 tỉnh thành phố cùng đông đào kiều bào bà con nhân dân các dân tộc trên mọi miền Tổ quốc.

Đúng 7h đoàn hành lễ từ sân trung tâm Lễ hội lên đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh uy nghiêm ngút ngàn linh khí. Đi đầu đoàn hành lễ là các chiến sĩ QĐND Việt Nam rước Quốc kỳ và cờ hội rước vòng hoa mang dòng chữ "Đời đời nhớ ơn các Vua Hùng đã có công dựng nước" và 12 thiếu nữ trong trang phục áo dài truyền thống mang hương hoa lễ vật. Sau đoàn 100 con Hồng cháu Lạc cầm cờ Hội là đoàn nhạc lễ và đoàn rước kiệu uy linh. Lễ vật được rước lên đền Thượng ngoài ngũ quả hương hoa là bánh chưng bánh dày gắn liền với những truyền thuyết về vị hoàng tử Lang Liêu và quan niệm Trời tròn - Đất vuông của cha ông ta. Theo sau là 100 thanh niên trai tráng tượng trưng cho 100 con Hồng cháu Lạc đầu đội mũ lông chim cùng với trang phục thời các Vua Hùng dựng nước.


Đúng 8h đoàn hành lễ tề tựu trang nghiêm trước Đền Thượng. Trong không khí trang nghiêm thành kính tri ân công đức tổ tiên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân và các đại biểu vào Thượng cung dâng hương hoa lễ vật thắp hương tưởng niệm làm lễ bái Quốc Tổ Hùng Vương.

Trong khí thiêng sông núi trong tiếng trống đồng trầm hùng Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết - Chủ lễ Lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm 2010 đọc diễn văn bày tỏ lòng thành kính tưởng nhớ và biết ơn Tổ tiên nguồn cội biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh các thế hệ cha ông các bậc lão thành cách mạng Mẹ VNAH các anh hùng liệt sĩ gia đình có công với cách mạng cùng toàn thể đồng bào và chiến sĩ cả nước đã anh dũng chiến đấu ngoan cường vì nền độc lập tự do của Tổ quốc vì hạnh phúc của nhân dân.

Diễn văn khẳng định: Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra trong không khí cả nước kỷ niệm 35 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước và Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Qua đó nhằm giáo dục truyền thống yêu nước biết ơn sâu sắc các vua Hùng và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước; thể hiện được tâm tư tình cảm của toàn dân hướng về cội nguồn dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử vượt qua nhiều thử thách đến nay sau hơn 20 năm đổi mới và phát triển đất nước ta đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị văn hóa - xã hội; vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao đời sống nhân dân ngày càng ấm no hạnh phúc. Thành tựu đó đã khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng sự đoàn kết nỗ lực của toàn quân và toàn dân ta. Chủ tịch nước cũng kêu gọi đồng bào đồng chí chiến sỹ cả nước đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết chung sức chung lòng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc phát huy sức mạnh của dân tộc thực hiện lời dạy của Bác: Các vua Hùng đã có công dựng nước Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.


Đông đảo người dân về dự lễ.

Thay mặt Ban tổ chức đồng chí Lê Tiến Thọ Thứ trưởng Bộ VH-TT và DL thành viên Ban Tổ chức đọc Chúc văn khẳng định ý nghĩa to lớn của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương; ca ngợi công đức trời biển của các Vua Hùng đã có công dựng nước Văn Lang nhà nước độc lập có chủ quyền đầu tiên của dân tộc Việt Nam và tinh thần anh dũng bất diệt của toàn dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến giành độc lập tư do của Tổ quốc. Bài Chúc văn có đoạn:

Chúng con nay
Sáu mươi ba tỉnh thành: nhớ lại tổ tông
Năm mươi tư dân tộc: tìm về cội rễ!
Công ơn Quốc tổ vẻ vang Hồng Lạc bốn ngàn năm
Hùng khí Thủ đô rực rỡ Thăng Long mười thế kỷ.

Thế kỷ hai mươi:
Hồ Chí Minh mở lối ánh chiếu dương rực sáng cả mây trời
Đảng cộng sản soi đường sóng cách mạng ào lên như bão bể
Quốc Tổ răn: Coi sơn hà xã tắc là thiêng!
Bác Hồ dạy: Lấy độc lập tự do làm quý.

Bài Chúc văn cũng thể hiện tâm tư tình cảm của toàn dân hướng về cội nguồn dân tộc khích lệ tinh thần yêu nước yêu chuộng hòa bình đoàn kết quốc tế củng cố đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nay gặp buổi:
Đảng ta đổi mới tư duy
Dân ta mở mang kinh tế
Con đường giàu mạnh thênh thang
Cuộc sống văn minh càng đẹp đẽ...
Noi theo Quốc tổ tiếp tiền nhân phẩm chất anh hùng
Học tập Bác Hồ truyền hậu thế tinh hoa
Thủ đô ngàn tuổi cùng toàn dân hùng mạnh phồn vinh
Cả nước một lòng với nhân loại hòa bình hữu nghị
Rực muôn đời Hồng Lạc tinh hoa!
Cao muôn trượng Hùng Vương khí thế.

Sau lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng và đặt vòng hoa thắp hương tại Lăng Hùng Vương đoàn hành lễ đến bên bức phù điêu có hình tượng Bác Hồ nói chuyện với Đoàn quân Tiên phong tại ngã 5 Đền Giếng đặt hoa thành kính tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc.

Nhân dịp này Chủ tịch nước đã tới thăm hỏi động viên cán bộ chiến sỹ làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự tại Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2010 và thăm các gian trưng bày hiện vật tại Bảo tàng Hùng Vương.


NGỌC LONG
(nhandan.com.vn. 23-04-2010)

More...

Giỗ tổ Hùng Vương

By nguyenuyenthu

Di sản lớn lao quý báu trường tồn 


Âm vang trống hội Đền Hùng.

ND - Kinh đô của đời vua cuối cùng Thời đại dựng nước (An Dương Vương Thục Phán) là Cổ Loa - một địa bàn lõi đối ngạn qua sông Hồng với thành Ðại La xưa - nội thành Hà Nội nay.

Chính việc chọn  Cổ Loa ở trung tâm vùng lúa nước trù phú với thế núi sông - phong thủy - dân cư đều đẹp làm đất đóng đô đã cho thấy cả thế nước mở mang lẫn bước tiến lớn về tư duy chính trị tư duy "quản lý vĩ mô" của An Dương Vương  Thục Phán. Hơn 10 thế kỷ sau Ngô Vương Quyền không xa lạ gì với thành Ðại La nhưng vẫn kế thừa sự lựa chọn của An Dương Vương cũng đóng đô tại thành ốc Cổ Loa.

Từ kinh đô Phong Châu đến kinh đô Cổ Loa Tổ tiên chúng ta đã phải trải qua có dễ cả thiên niên kỷ chinh phục thiên nhiên giàu có tiềm năng nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt và lắm phen phải gươm giáo đánh thắng xâm lăng. Có nghĩa là trải hàng nghìn năm hàng vạn thế hệ Tổ tiên chúng ta mồ hôi nước mắt sáng tạo đắp bồi bền bỉ trong tai ương bão lũ và giặc dã bắt đầu từ mài gọt rìu đá trồng cây có củ bầu bí... trên gò đồi đến định cư trong các làng đồng bằng mở xưởng đúc đồ đồng tinh xảo và đúc rèn đồ sắt ăn cơm gạo trắng cá kho thịt gà nuôi thả vườn mặc quần áo sợi dệt và mở hội mùa náo nhiệt...

Thành Cổ Loa của An Dương Vương thất thủ năm 279 trước Công nguyên. Nhưng di sản kỳ vĩ quý giá của Thời dựng nước truyền lại cho giống nòi Hồng Lạc mà đại diện thừa kế lúc bấy giờ là chưa đầy một triệu cư dân thì trường tồn vĩnh cửu .

Ðó là một cương vực vốn là thiên nhiên hoang sơ dữ dội nhờ được khai phá để sinh tồn sáng tạo mà thành môi trường sinh thái-nhân văn Lạc Việt từ cực bắc đến Ðèo Ngang và có thể còn xa hơn nữa.

Là một xã hội đã bước vào thời đại văn minh với nhà nước ra đời nhưng không khí xã hội vẫn hồn nhiên hòa hợp. Vua cùng các Lạc hầu Lạc tướng là những người giỏi giang nhất bộ lạc do dân suy tôn để dẫn dắt dân làm ăn sinh sống chống thú dữ và giặc dã. Các Vua Hùng ngày thường vẫn đóng khố cởi trần dạy dân cày ruộng săn thú; chơi đu đấu vật và tắm suối với trai làng nếm mật mía dân gian mà khen ngon miệng... Các công chúa thì dạy dân làm sợi dệt vải nấu xôi làm bánh. Không thấy cả bóng dáng nô tỳ nô lệ cũng như áp chế của đàn ông đối với đàn bà trong cả một biển huyền thoại truyện cổ sử thi hay trên hình chạm khắc trên các chủng loại phong phú đồ đồng cũng như tượng gốm tượng đồng; mọi cư dân các làng xã đều là công dân giặc đến thành chiến sĩ. Một thời đại văn minh với nhà nước cai quản tổ chức và điều hành; trên dưới hòa đồng để làm ăn mở mang và giữ gìn cương vực sinh tồn gian lao vô kể mà xã hội yên bình sôi nổi   vui tươi. Người thời sau có thể đọc thấy trên mặt trống đồng Ngọc Lũ như một Tuyên ngôn Lạc Việt .

Trong xã hội ấy người mẹ được tôn sùng như huyền thoại Mẹ Âu Cơ Mẹ Dóng. Còn tư duy tín ngưỡng thì dần dà đồng nhất Mẹ với các sức mạnh thiên nhiên liên quan đến mùa màng sinh sôi mà nên tục thờ Mẫu từ rất sớm (đất-Mẫu Thượng Ngàn hay Mẫu Ðịa; nước-Mẫu Thủy-Thoải mây mưa sấm chớp-Mẫu Thượng Thiên). Cho nên về sau khi va đập với kiểu thống trị nhà nước xa lạ thì những người nổi dậy đầu tiên chính là phụ nữ được tôn sùng mà thiên tính là yêu thương và che chở-Hai Bà Trưng Bà Triệu còn trai tráng thì cải dạng nữ nhi để đầu quân làm tướng. Về sau nữa khi đã giành lại được chủ quyền   Khúc Thừa Dụ thực hành ngay một nền chính trị "khoan dung giản dị" cốt sao "Trăm dân đều được yên vui ". Các triều đại về sau ở Kỷ nguyên Ðại Việt tiếp nối hầu như lấy cái gốc nhân văn gần dân thương dân dựa vào dân làm tư tưởng chính trị và "thượng sách để giữ nước". Di sản ấy của Thời dựng nước một thứ di sản tinh thần-tâm thức-tâm linh riêng có của Lạc Việt-Việt Nam ta.

Một di sản - thực thể độc đáo sản phẩm của văn minh nông nghiệp lúa nước trong hoàn cảnh sinh tồn riêng của cộng đồng Lạc Việt có sức mạnh hầu như là quyết định trường tồn và phát triển của xứ sở chúng ta ít ra trên cả hành trình dài trước thời công nghiệp hóa và đô thị hóa - đó là Làng xã. Thực thể làng như là sự khẳng định tự nhiên và thường nhật chủ quyền dân tộc và quyền sống con người kết tụ cả sức chống trả cao trước gươm giáo xâm lăng lẫn sức đề kháng cao trước văn hóa ngoại lai. Làng tượng trưng cho bền vững văn hóa và lối sống Lạc

Việt-Việt Nam. Làng tượng trưng cho sự trường tồn dân tộc. Làng là kho tàng hầu như vô tận sức người sức của. Làng từ thuở ấy trải cả nghìn năm bị đô hộ và đồng hóa cứ mở cổng làng tiếp nhận giống lúa mới cây trái ngon kỹ thuật thâm canh học chữ tượng hình để học hỏi kho tàng văn hóa Trung Hoa... mà vẫn nấu nung ý chí độc lập quật cường vẫn nói tiếng ông cha thờ Tổ tiên và Thánh Mẫu mở hội làng bơi chải và đấu vật

Chính từ bên trong đời sống hòa đồng xiết bao bình dị và vui tươi  thời Văn Lang - Âu Lạc là nhân lõi là bản sắc văn hóa Việt kết tinh trong mọi sản phẩm vật thể và phi vật thể và trong chính con người Lạc Việt sáng tạo ra văn hóa ấy. Bản sắc ấy là di sản lớn lao nhất mà thời đại dựng nước để lại cho muôn đời con cháu.

Chúng ta nhận ra và thế giới cũng thừa nhận người Việt Nam có các phẩm hạnh bản chất: dũng cảm thông minh cần cù sáng tạo. Tuy nhiên xem ra đó cũng là các tố chất phổ quát nhân loại dân tộc nào cộng đồng nào cũng thế. Còn như bản sắc nghĩa là bản chất riêng đặc sắc hay thứ phẩm chất đặc sắc làm nên nét riêng nổi trội của con người Việt Nam định hình ở Thời dựng nước và tiếp tục được đắp bồi trong trường kỳ lịch sử đến ngày nay thì suy ngẫm và so sánh có thể nhận ra: Ðó là khả năng thích ứng dẻo bền vô hạn trước mọi tai họa thiên nhiên cũng như mọi biến thiên bão táp và bi kịch lịch sử cả do đến từ mọi phía lẫn do nội sinh để trường tồn và phát triển.

Lại nghìn năm sau kể từ họ Khúc tái lập nền tự chủ quốc gia dân tộc chúng ta từng chịu nhiều hiểm họa vận nước bi đát thân phận cộng đồng hầu như trứng treo trên đá. Những thập kỷ dưới ách đô hộ tàn bạo và hủy diệt văn hóa của nhà Minh. Hai thế kỷ Trịnh-Nguyễn phân tranh xương phơi đầy nội đất nước kiệt quệ dân các làng chết đói và phiêu dạt xứ sở như miếng mồi thơm trước thế lực xâm lăng. Ðêm trường hơn trăm năm dưới ách thống trị nghiệt ngã và bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp. Những ngày tháng hiểm nghèo Nhà nước của nhân dân còn non trẻ chênh vênh trước cả giặc đói giặc dốt và nguy hiểm nhất là giặc ngoại xâm năm 1946. Chiến tranh hủy diệt bởi quân đội và bom đạn đế quốc Mỹ đỉnh cao là bom B52 (tháng 12-1972 khi ấy tình hình quốc tế lại có diễn biến bất lợi cho chúng ta) bom B52 trút xuống nội thành Thủ đô Hà Nội liên tục trong 12 ngày đêm hòng ném chúng ta về thời đồ đá; quân dân ta đánh trả quyết liệt và đã chiến thắng vẻ vang! Những tháng ngày đói kém thiếu thốn cùng cực ngay trong sinh tồn thường nhật lòng người thì u uất vào đêm trước thời đổi mới. Chính là nhờ khát vọng sống còn nhờ sức mạnh ẩn trong dẻo bền vô hạn mà cộng đồng không gục ngã trái lại bi đát đến cực điểm thì trí lực chớp sáng sức lực tiềm ẩn vùng lên đã thoát hiểm một cách thần kỳ...

Nay Giỗ Tổ Hùng Vương là Quốc giỗ. Con cháu giữ gìn tôn tạo đền miếu cũ và xây thêm hai ngôi đền mới nguy nga trên núi Hùng để thờ Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân. Gần 86 triệu cháu con trên xứ sở và sinh sống ở mọi nơi trên trái đất hướng về nguồn cội. Hàng chục vạn cháu con đổ về Ðền Hùng dâng hương và vui hội. Tổ tiên linh thiêng hẳn cũng hài lòng. Nhưng hẳn là các Vua Hùng các bậc tiên hiền tiên liệt các thế hệ anh hùng chiến trận liệt sĩ anh hùng văn hóa các thế hệ ông cha và cả các thế hệ cháu con còn chưa sinh kỳ vọng và đòi hỏi chúng ta nhiều hơn thế. Hãy giữ cho trong lành mãi mãi và khơi rộng dòng cho tuôn chảy ngọn nguồn từ xa xưa yêu xứ sở với tất cả đất đai tài nguyên muông thú cỏ cây; cố kết cộng đồng lòng thương người rộng mở trên dưới hòa ái hòa đồng. Bản tính dẻo bền vô hạn sẽ là sức mạnh đua tranh toàn cầu thời hiện đại nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức và tai ương bất chợt khi bay trên đôi cánh lớn của khát vọng năng lực trí tuệ và kỹ năng hiện đại làm rạng rỡ giang sơn gấm vóc Việt  Nam.

Thế Văn
(nhandan.com.vn. 21-04-2010)

More...