Người đẹp lung linh sắc màu áo dài

By nguyenuyenthu

NUT: Đến 24.07.2010 vòng chung khảo khu vực phía Bắc cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2010 diễn ra tại Nhà Văn hóa Học sinh Sinh viên Hà Nội. 22 thí sinh xứng đáng nhất đã lọt vào vòng chung khảo. Như vậy các vòng thi cấp cơ sở sơ loại sơ khảo và chung khảo khu vực diễn ra tại nhiều tỉnh thành trên toàn quốc trong suốt gần bốn tháng qua đã khép lại để chọn ra 37 thí sinh (phía Bắc có 22 phía Nam có 15 thí sinh) chính thức bước vào vòng Chung kết cuộc thi Hoa hậu Việt Nam 2010 diễn ra từ ngày 01.08 đến ngày 15.08.2010 tại Khu du lịch quốc tế Tuần Châu (Hạ Long - Quảng Ninh).

Sau đây xin giới thiệu những người đẹp lung linh sắc màu trong tà áo dài truyền thống.


Áo dài hòa sắc với thiên nhiên

TPO - Những cô gái miền Nam dịu dàng hòa mình với thiên nhiên đầy sức sống trong bộ ảnh mới nhất với tà áo dài Việt Nam duyên dáng. Nét Việt tinh tế được thể hiện đặc sắc với bộ sưu tập dưới đây:
 
Thí sinh Huỳnh Bích Phương
Thí sinh Huỳnh Bích Phương.
Thí sinh Võ Thị Ánh Nguyệt
Thí sinh Võ Thị Ánh Nguyệt.
Thí sinh Đào Mai Uyên Thảo
Thí sinh Đào Mai Uyên Thảo.
Thí sinh Vũ Thị Hoàng My
Thí sinh Vũ Thị Hoàng My.
Thí sinh Nguyễn Thị Mai Ly
Thí sinh Nguyễn Thị Mai Ly.
Thí sinh Lê Huỳnh Thúy Ngân
Thí sinh Lê Huỳnh Thúy Ngân.
Thí sinh Trần Thị Ngọc Giàu
Thí sinh Trần Thị Ngọc Giàu.
Thí sinh Hồ Thị Cẩm Nhung
Thí sinh Hồ Thị Cẩm Nhung.
Thí sinh Huỳnh Thị Lệ Hằng
Thí sinh Huỳnh Thị Lệ Hằng.
Thí sinh Nguyễn Bảo Ngọc
Thí sinh Nguyễn Bảo Ngọc.
Thí sinh Lê Thị Nhàn
Thí sinh Lê Thị Nhàn.
Thí sinh Vũ Thị Bình Minh
Thí sinh Vũ Thị Bình Minh.
Thí sinh Nguyễn Phạm Bích Trâm
Thí sinh Nguyễn Phạm Bích Trâm.
Thí sinh Lê Thị Thúy Hằng
Thí sinh Lê Thị Thúy Hằng.
Thí sinh Lâm Thị Thúy
Thí sinh Lâm Thị Thúy.
TPO
(Ảnh: Lý Võ Phú Hưng)
(
tienphong.vn/ 27/07/2010)



Áo dài bên Văn Miếu ngàn xưa

>> Rạng ngời Bikini

TPO - Văn Miếu cổ kính với kiến trúc tinh xảo là nơi để thể hiện ý tưởng của bộ sưu tập ảnh áo dài của các thí sinh phía Bắc. Nét rêu phong hoài cổ như càng làm tôn thêm nét yêu kiều của những tà áo dài thướt tha.

Các thí sinh khoe nét rạng ngời tại Văn Miếu
Các thí sinh khoe nét rạng ngời tại Văn Miếu.
Thí sinh Lê Nhã Uyên
Thí sinh Lê Nhã Uyên.
Thí sinh Phạm Thùy Dương
Thí sinh Phạm Thùy Dương.
Thí sinh Nguyễn Thị Ngọc Tuyết
Thí sinh Nguyễn Thị Ngọc Tuyết.
Thí sinh Đặng Thùy Trang
Thí sinh Đặng Thùy Trang.
Thí sinh Trần Thị Hoài Phương
Thí sinh Trần Thị Hoài Phương.
Thí sinh Nguyễn Thị Loan
Thí sinh Nguyễn Thị Loan.
Thí sinh Trương Tùng Lan
Thí sinh Trương Tùng Lan.
Thí sinh Đặng Thị Ngọc Hân
Thí sinh Đặng Thị Ngọc Hân.
Thí sinh Vũ Thị Thùy Dương
Thí sinh Vũ Thị Thùy Dương.
Thí sinh Phí Thị Thùy Linh
Thí sinh Phí Thị Thùy Linh.
Thí sinh Đàm Thu Trang
Thí sinh Đàm Thu Trang.
Thí sinh Đào Thị Hân
Thí sinh Đào Thị Hân.
Thí sinh Tôn Nữ Na Uy
Thí sinh Tôn Nữ Na Uy.
Thí sinh Nguyễn Phước Hạnh
Thí sinh Nguyễn Phước Hạnh.
Thí sinh Phạm Thị Huyền Trang
Thí sinh Phạm Thị Huyền Trang.
Thí sinh Đặng Thị Phượng
Thí sinh Đặng Thị Phượng.
Thí sinh Nguyễn Thị Minh
Thí sinh Nguyễn Thị Minh.
Thí sinh Đỗ Thị Hương
Thí sinh Đỗ Thị Hương.
Thí sinh Vũ Thu Hà
Thí sinh Vũ Thu Hà.
Thí sinh Lê Nhã Uyên và Tôn Nữ Na Uy
Thí sinh Lê Nhã Uyên và Tôn Nữ Na Uy.
Thí sinh Cung Thanh Ngọc Anh
Thí sinh Cung Thanh Ngọc Anh.

TPO

(
tienphong.vn/ 29.07.2010)



More...

"Bảo tồn cổ vật Phật giáo chúng ta vẫn thua các cụ"

By nguyenuyenthu

 Chiều 28/7 tại Hoàng thành Thăng Long triển lãm cổ vật Phật giáo đã được khai mạc. Xung quanh sự kiện này nhà sử học Lê Cường - Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam có đôi điều tâm sự về cổ vật Phật giáo.

Qua nhiều năm nghiên cứu ông thấy thực trạng bảo tồn cổ vật Phật giáo hiện nay như thế nào?

Mô tả ảnh.
Nhà sử học Lê Cường
- Ở đây có những cổ vật chúng ta giữ được cũng có những cổ vật do giao lưu văn hóa giữa các nước mà chúng ta có. Đất nước ta có những giai đoạn hiểu nhầm về quy luật phát triển cứ cũ là phải phá để xây mới. Vì vậy chúng ta phá đình chùa và phá những pho tượng cổ có giá trị hàng trăm thậm chí nghìn năm. Điều đó nằm trong quy luật của Đức Phật Thích Ca đã nói từ lâu đại ý rằng: Sẽ đến một thời kỳ mạt pháp có nghĩa là sẽ có một thời kỳ mà đình chùa bị phá sau thời kỳ mạt pháp là thời kỳ hưng thịnh. Chính hiện nay là thời kỳ hưng thịnh vì vậy chúng ta mới có cuộc triển lãm này.

Qua những cổ vật này chúng ta có thể nhận biết được sự phát triển đạo Phật ở nước ta và các nước khác trong khu vực. Đạo Phật đóng vai trò thế nào trong sự phát triển của một quốc gia ?

- Trí giả của hành tinh đã từng ca ngợi đạo Phật. Ví dụ nhà khoa học lỗi lạc Albert Einstein từng nói: Tất cả những sự phát minh của loài người ở thế kỷ 20 đều nằm trong quy luật của đạo Phật. Cũng như ông đã từng nói loài người của thế kỷ 21 và những thế kỷ tương lai là sự kết hợp giữa khoa học và tôn giáo.

Phật giáo du nhập từ Ấn Độ vào Đông Nam Á và ở nước ta  đạo Phật đã tiếp nhận một cách có chọn lọc. Theo ông những cổ vật Phật giáo của Việt Nam có đặc trưng gì so với các cổ vật cùng chủng loại của các nước Thái Lan Mianma hay Lào?

- Mỗi một vùng văn hóa mỗi quốc gia khi tiếp nhận đạo Phật  đều thấm đẫm vào dân tộc mình và lúc đó được các nhà điêu khắc thể hiện bằng tượng chuông.... Mỗi một tượng phật đều mang giá trị pháp lý tinh thần tư tưởng của đạo Phật.

Tuy nhiên tính đa dạng cũng rất rộng rất lớn. Vẫn là pho tượng Quan Âm tượng Thích Ca nhưng ta vẫn thấy muôn hình vạn trạng được thể hiện. Nhưng cái gốc phật tại tâm vẫn là cái cốt lõi.

Thói quen hưởng thụ văn hóa mỗi vùng khác nhau nên khi nhìn vào các pho tượng thì chúng ta biết pho tượng nào của Việt Nam pho nào của Ấn Độ. Nhưng hình dạng sắc tướng hoa văn mỗi tượng có khác nhau đôi chút. Tượng ở Việt Nam có hoa thị hoa sen và một số loài hoa khác để tạo hoa văn nhưng Ấn Độ hoa sen trong tượng Phật có dáng dấp khác.

Hiện nay công việc trùng tu lại chùa đang làm mất đi những cổ vật hiện vật của Phật giáo rất quý hiếm ông nghĩ sao về điều này?.

- Bảo tồn cổ vật Phật giáo chúng ta vẫn thua các cụ. Chất liệu của các cụ ngày xưa dùng tạc tượng phật đã được suy nghĩ là sẽ bảo tồn nghìn năm sau đó là chất liệu như đồng vàng... Gần đây có những nhà phật học đã tìm đến ngọc hoặc đá quý vì giá trị của nó trường tồn với thời gian.

Hiện nay một số địa phương tu bổ đền chùa nhưng lại xóa bỏ cái cổ xây cái mới. Đó là quy luật phát triển ở trình độ thấp. Chúng ta đổi mới thì sự quản lý chưa cập nhật được với sự biến đổi của thời cuộc nên hàng nghìn ngôi chùa bị tu sửa mới mà người dân không biết bị mất đi cái cổ. Họ chỉ biết ngôi chùa mới đó to đẹp hơn thôi.

Khi tu sửa chùa chiền họ dùng những nguyên liệu hết sức thô sơ phản cảm. Có những pho tượng mà sơn son thiếp vàng thì mất hết linh khí của pho tượng ấy.

Mô tả ảnh.
Nhà sưu tầm Dương Phú Hiến cho biết: "Triển lãm trưng bày hơn 300 hiện vật trong đó có hơn 100 hiện vật của Việt Nam số còn lại đến từ các nước trong khu vực do giao lưu văn hóa mà có".
Mô tả ảnh.
Tương Phật tổ nhập niết bàn thế kỷ 12 - 13 đời nhà Lý.
Mô tả ảnh.
Chiều cùng ngày triển lãm Nhiếp ảnh Phật giáo  diễn ra tại 42 Yết Kiêu Hà Nội. Triển lãm trưng bày 130 bức ảnh màu và đen trắng của câu lạc bộ Nhiếp ảnh Viên Minh - đạo tràng Chân tịnh Hà Nội và một số nghệ sĩ nhiếp ảnh khác.
  • Bài và ảnh: Đức Chính

(vietnamnet.vn/
29.07.2010)

More...

Phật giáo Việt Nam trong buổi đầu xây nền độc lập

By nguyenuyenthu


Đền thờ Vua Đinh (Hoa Lư Ninh Bình).
ND - Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội tại cố đô Hoa Lư Viện Nghiên cứu tôn giáo (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp một số  cơ quan tỉnh Ninh Bình đã tổ chức Hội thảo khoa học: "Phật giáo thời Ðinh - Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước".
Ði theo đường Tràng An mới mở từ thành phố Ninh Bình vào Hoa Lư quanh co uốn lượn qua một vùng "Hạ Long trên cạn" sơn thủy hữu tình thật khó  hình dung khung cảnh của 1.000 năm trước. Nơi đây chứng kiến sự bắt đầu của vương triều Lý bước đột khởi của một giai đoạn phát triển rực rỡ trong lịch sử dân tộc điểm bắt đầu cho Thăng Long ngàn tuổi. 
Các vua Ðinh vua Lê đã sớm nhận ra sức mạnh của lòng dân. Cần một nhân tố tinh thần để thu phục nhân tâm liên kết cộng đồng. Vua Ðinh đã tìm thấy nhân tố đó ở tôn giáo. Phật giáo lúc đó đang là tôn giáo phổ biến hơn cả. Giới trí thức Phật giáo là những người có ảnh hưởng nhất trong xã hội. Các vị thiền sư thời đầu dựng nền độc lập tự chủ là những bậc đại trí thức trong xã hội đương thời. Khuông Việt Ðại sư Ngô Chân Lưu thủa nhỏ theo Nho học khi trưởng thành theo Phật thạo thơ chữ Hán. Thiền sư Vạn Hạnh không chỉ khảo cứu kinh Phật mà còn đọc khắp cả Ðạo và Nho. Ông còn am hiểu về quân sự đặc biệt giỏi sấm ngữ và độn số. Những kiến thức đó đã được vận dụng rất hiệu quả trong quá trình ông giúp các vua...
Với việc trọng dụng các cao tăng nhà vua không đơn thuần chỉ dựa vào họ để tham vấn các vấn đề chính trị ngoại giao mà còn có thể hướng cảm tình tìm sự ủng hộ của khối Phật tử chiếm hầu hết trong cộng đồng vốn đã quen với việc phục tùng các thủ lĩnh địa phương tập hợp lại chung quanh triều đình. Bởi vậy mà từ thời Ðinh - Tiền Lê Phật giáo trở thành quốc giáo. Vua định phẩm cấp các cao tăng giao cho họ vai trò lãnh đạo Phật giáo và tham vấn họ về các vấn đề chính trị.
Thời Vua Lê Ðại Hành Khuông Việt Ðại sư Pháp Thuận Quốc sư càng được kính trọng. Việc quân việc nước vua thường hỏi các thiền sư. Lê Hoàn có lần hỏi thiền sư Pháp Thuận về vận nước thiền sư trả lời vua bằng bài kệ:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh     

Dịch nghĩa: Vận nước (đang lên) như dây cuốn/Trời Nam mở (ra một vận hội) thái bình/(dùng đạo) Vô vi để trị nước/Nơi nơi (sẽ) hết chiến tranh.
Ý của thiền sư muốn vua biết rằng: Ðể ngôi vua bền vững thì phải đoàn kết và thực hành từ bi. "Vận nước như dây cuốn" ẩn dụ thể hiện mối tương quan mật thiết giữa cá nhân với cộng đồng giữa vua với dân. Sự "cuốn" với nhau bền chặt mang ý nghĩa gắn kết cả dân tộc thành một khối. Ðây chính là truyền thống hòa hợp và cũng là tinh thần "lấy dân làm gốc" của dân tộc. "Vận nước" chỉ vững bền khi đoàn kết được toàn dân. Ðó là nguồn sức mạnh vô địch của dân tộc mà bất cứ người cầm quân cầm quyền nào cũng phải biết (cách) mà huy động.
"Vô vi" được hiểu là không phải không làm gì mà là làm không vì tư lợi. Không làm trái quy luật "Vô vi trên điện các" đề xuất một mẫu người cầm quyền không cố chấp và định kiến nâng cao trí và đức để lãnh đạo đất nước. Chỉ có vậy mới chấm dứt được tranh chấp chiến tranh để "Xứ xứ hết đao binh". Ðến nay chúng ta vẫn còn tìm thấy nhiều giá trị từ phương châm hành xử đó.
Trong 25 năm ở ngôi Lê Ðại Hành đã làm được nhiều việc để xây dựng Ðại Việt. Ông chú trọng xây dựng kinh đô Hoa Lư đặt khu vực hành chính định pháp lệnh hoàn thiện quan chế trên cơ sở bộ máy thời Ðinh đúc tiền đồng khuyến khích canh nông... Một nhà nước quân chủ độc lập đang dần hoàn thiện. Nhưng nền độc lập  non  trẻ lại lần nữa bị đe dọa khi vua Ðại Hành mất. Các hoàng tử tranh nhau ngôi vua. Long Việt bị em là Long Ðĩnh giết cướp ngôi. Long Ðĩnh không có đức làm nhiều việc ác khiến lòng dân oán hận chỉ làm vua được bốn năm thì mất.
Nhà Tiền Lê không có người đủ tài đức để duy trì vương mạch. Ðất nước lại đứng trước nguy cơ phân tán cát cứ trở lại hoặc có thể lại rơi vào vòng bị đô hộ. Trước tình thế đó tinh thần nhập thế của Phật giáo được đẩy lên đến cực điểm. Giới trí thức Phật giáo cao cấp đã gánh trách nhiệm trước dân tộc chủ động phối hợp cùng các tướng lĩnh quân sự xoay chuyển tình thế. Sử liệu cho thấy vai trò to lớn của các thiền sư như Vạn Hạnh Ða Bảo... trong cuộc chính biến hòa bình đưa Lý Công Uẩn lên ngôi mở ra vương triều Lý bền vững hơn 200 năm tạo một cục diện mới thuận lợi cho việc củng cố nền độc lập xây dựng nhà nước Ðại Việt.
Nối thời Ðinh - Tiền Lê các vua thời Lý tiếp tục tiếp thu và phát huy triết lý Phật giáo vào việc xây dựng bộ máy chính quyền ổn định đoàn kết vững mạnh. Các vị thiền sư thời Lý vẫn tham gia chính sự mà không tham dự chính quyền. Họ là bậc chân tu tài cao đức trọng có mặt ở triều đình với vai trò lãnh đạo tinh thần trên cương vị Quốc sư hay Thái sư. Khi triều đình hay đất nước cần thì họ có mặt đóng góp tích cực khi xong việc họ lại trở về chùa hay lui vào rừng núi ẩn tu.
Khi đạo Phật truyền vào làng xã hòa vào văn hóa Việt Nam thì làng xã đã là một cộng đồng quần cư một đơn vị hành chính nhưng còn là một cộng đồng tôn giáo. Chùa làng là điểm cố kết nhân tâm là nơi khuyên bảo người dân sống theo đạo lý Phật giáo. Phật giáo đã góp phần làm phong phú thêm văn hóa làng Việt.  Hàng nghìn năm dân ta có lúc mất nước nhưng không mất làng. Văn hóa làng - trong đó chứa nhiều "hàm lượng" văn hóa Phật giáo - vẫn tồn tại. Tính trội của Phật giáo trong xã hội nước ta được các nhà nghiên cứu đánh giá là một trong những yếu tố tạo nên bản sắc riêng. Gắn bó với văn hóa làng gắn bó với dân tộc Việt đối phó với những chính sách hà khắc của ngoại xâm các thiền sư Việt Nam đã được hun đúc ý thức về một nền độc lập dân tộc. Phật giáo đã tạo nên tầng lớp trí thức tiêu biểu với tinh thần nhập thế gánh vác trách nhiệm trước dân tộc trong thời kỳ đầu tiên gian nan xây nền độc lập (thế kỷ X) và họ đã hoàn thành sứ mệnh đó. 
Bài và ảnh: Ngô Vương Anh

(nhandan.com.vn/21.07.2010)


More...

Chuyện học và thi ở Quảng Nam xưa

By nguyenuyenthu

Không chỉ bây giờ mà ngày xưa việc học hành thi cử của các cụ cũng buồn vui hên xui lắm chuyện...

Hai anh em cùng đi thi bị nghi là chép bài của nhau.

Khoa thi năm 1848 tại trường thi Thừa Thiên Tham tri Bộ Binh là Hoàng Tế Mỹ làm Chánh chủ khảo Biện lý Bộ Lễ là Phan Huy Thực làm Phó chủ khảo. Có hai học trò người Quảng Nam dự thi và cùng đỗ Cử nhân.

Khi xem lại bài thi của các thí sinh thi đỗ hai vị Chánh Phó chủ khảo vô cùng bối rối vì hai bài thi có nhiều luận điểm giống nhau. Lại là bài thi của hai anh em ruột. Sợ quá hai vị bèn tâu về triều đình. Thấy vậy vua Tự Đức cho tổ chức sát hạch riêng từng người mỗi người ngồi một phòng riêng ở Tả vu và Hữu vu trong điện Cần chánh.

Sau khi xét duyệt vua phê: "Văn hành công khí quý đắc chân tài; huynh đệ đồng khoa thành vi mỹ sự". Nghĩa là "sự hành văn là việc chung cốt để chọn chân tài; hai anh em cùng đỗ một khoa đó là điều tốt đẹp".

Hai anh em ruột người Quảng Nam cùng đỗ Cử nhân khoa thi đó một người tên là Hoàng Kim Giám 22 tuổi; một người tên là Hoàng Kim Tích tức Hoàng Diệu 19 tuổi quê ở làng Xuân Đài huyện Điện Bàn Quảng Nam (nay là xã Điện Quang huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam).

Đỗ xong Hoàng Kim Giám không ra làm quan ở nhà dạy dỗ các em thành tài. Còn Hoàng Diệu đỗ Phó bảng năm 1853 khi mới 24 tuổi và đã trở thành một trong những danh sĩ hàng đầu của đất Quảng.

May cho anh em Hoàng Diệu gặp được một ông vua hay chữ và công tâm trong việc thi cử chứ không thì...

Tiến sĩ dễ hơn Cử nhân

Cụ Trần Quý Cáp là người học giỏi nổi tiếng nhưng thi Hương mãi không đỗ Cử nhân do đó không được thi Hội. Học trò cụ nhiều người đỗ đạt biết tài học của cụ nên đã làm đơn xin cho cụ đặc cách dự kỳ thi Hội với tư cách là người nhiều lần đỗ Tú tài (gọi là Tú tài hạng nhất). Nhờ vậy cụ mới đỗ được Tiến sĩ.

Khoa thi năm Giáp Thìn (1904) cụ đã đỗ Tiến sĩ cùng khoa với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Thi Hội cụ Huỳnh đỗ đầu (Hội nguyên) cụ Trần đỗ thứ nhì và Đặng Văn Thụy đỗ thứ 3. Khi vào thi Đình Đặng Văn Thụy đỗ đầu cụ Trần đỗ thứ nhì cụ Huỳnh tụt xuống vị thứ 3. Như vậy người đỗ đầu kỳ thi Đình lại đỗ dưới cụ Trần trong thi Hội còn người đỗ đầu kỳ thi Hội lại đỗ dưới cụ Trần trong thi Đình. Thật là tréo ngoe.

Do điều thú vị đặc biệt này mà cụ Đào Nguyên Phổ người đỗ Hoàng giáp (đỗ đầu kỳ thi Đình) khoa thi 1898 (khoa thi có Ngũ Phụng tề phi của Quảng Nam) đã tặng cụ câu đối: "Tố Tiến sĩ khước dị tố Cử nhân khước nan; ức ức dương dương vô phi tạo ý/ Áp Hội nguyên ư Đình áp Đình nguyên ư Hội; vinh vinh quý quý hà tất khôi khoa". Tạm dịch: "Đỗ Tiến sĩ thì dễ đỗ Cử nhân lại khó thăng trầm không phải không do ý trời/ Đỗ trên người đỗ đầu thi Hội trong thi Đình; đỗ trên người đỗ đầu thi Đình trong thi Hội đã rất vẻ vang rồi cần gì phải đỗ đầu".

Học giỏi và đỗ thủ khoa nhờ... may mắn!

Huỳnh Thúc Kháng là người chăm học học giỏi và đỗ cao thì ai cũng biết. Nhưng chuyện sau thì ít người biết:

Phan Châu Trinh có tặng Huỳnh Thúc Kháng một câu thơ "Khách lai vô thoại chỉ đam thư" (Khách đến không nói chỉ mê sách). Câu này đã nói đầy đủ đức tính chăm học của cụ rồi.

Khi học ở trường tỉnh (Thanh Chiêm Điện Bàn) cùng với 40 người khác gồm cả học sanh (học sinh bình thường) ấm sanh (con của các quan nên được hưởng tập ấm) và Cử nhân (những người đã đỗ trong kỳ thi Hương chuẩn bị thi Hội) trong đó có Phạm Liệu Phan Châu Trinh Nguyễn Đình Hiến... do Đốc học Trần Đình Phong làm Đốc giáo. Trong các kỳ sát hạch bài của Huỳnh Thúc Kháng luôn được đứng đầu. Ông cho rằng sức học của ông không hơn gì mấy vị kia nhưng nhờ thầy ưu ái. Về sau trong bài Phải chăng là cái số "Trước phúc đầu họa" đăng trên báo Tiếng Dân vào năm 1939 cụ Huỳnh kể lại rằng: "Cụ Đốc học Mã Sơn bảo: "Học sanh lương ít - ít hơn ấm sanh và Cử nhân lương ưu mỗi tháng chỉ có 16 quan tiền thôi - anh nhà xa trường lại nghèo nên phê cho hạng ưu đặng có tiền ăn học".

Cũng trong bài viết đó cụ Huỳnh kể tiếp: "Đến khoa thi năm Canh Tý (1900) trong 4 trường quyển tôi có một trường ưu ba trường bình mà quyển của cụ Nguyễn Đình Hiến 2 trường ưu 2 trường bình; quyển của cụ Phan Châu Trinh một trường ưu một trường bình một trường thứ lại ưu trường phúc hạch. Bằng theo quyển thì hai cụ đáng đỗ đầu nhưng vì trường 3 hai cụ nạp quyển có trễ vào số "nạp trì" có thanh tự mới được chấm. Vì thế quyển tôi lại đỗ đầu! Cái Hương nguyên không ngờ!

Đi thi Hội khoa Giáp Thìn (1904) 4 trường hội trong số trúng cách quyển tôi cùng quyển ông Nguyễn Mai (Tiên Điền Nghệ An) đều 11 phân như nhau. Quan trường không biết lấy ai đậu đầu mới hội lại đặt hai quyển lên bảo tên lính không biết chữ bắt thăm nó bắt nhằm quyển tôi thế là tôi đậu đầu! Cái Hội nguyên không ngờ".

Đúng là may mắn đã nhắm vào người "xứng đáng được may mắn".

LÊ THÍ

(danangcuoituan/3.7.2010)

More...

Văn bia Văn từ phủ

By nguyenuyenthu

Văn từ phủ Điện Bàn nay chỉ còn là đống gạch vụn tọa lạc tại làng Đông Bàn xã Điện Trung huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Nhưng hồi tưởng về một Văn từ phủ vẫn chưa phai mờ trong tâm khảm của những vị cao niên quanh vùng; bởi nơi đây "thờ kính công cuộc giáo dục" với bậc tiền nhân là ước nguyện con cháu mai sau có chí khí và ăn học thành tài.

3 tấm bia trong sân Bảo tàng Điện Bàn tuy chữ đã bị phai mờ nhưng vẫn còn đọc được. (Ảnh: P.V.B)

Ba trong bốn tấm bia bằng chữ Hán được mang về từ Văn từ phủ đặt trang trọng trong sân Bảo tàng Điện Bàn tuy chữ đã bị phai mờ nhưng vẫn còn đọc được. Theo bản dịch của nhà nghiên cứu Hán Nôm Ngô Văn Lại (hiện ở phường Hòa Thọ Đông quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng - ĐNCT) còn lưu trữ tại Bảo tàng thì những văn bia này được khắc dựng ở những thời điểm khác nhau.

Bia số 1 do ông Phạm Hữu Nghi quan Hữu Tham tri Bộ Lễ sung Toản tu Quốc sử quán khắc ngày 25 tháng giêng năm Tự Đức thứ hai mươi sáu (1873) sau ngày dựng Văn từ phủ 20 ngày có nội dung:

Mùa Đông năm Tự Đức thứ tư (1851 - NV); cố Thái thú Nguyễn Văn Hiến (sau nhậm chức Phú Yên Tuyên vũ sứ) là gốc Quảng Trị báo: "Đây là một sự thịnh vượng của huyện ta quý vị quân từ phải đi đầu chịu hao tốn lương bổng mà làm cho nên việc". Giới kỳ mục tổng lý nghe thế hăng hái quyên góp tiền của công sức một cách vui vẻ; bèn chọn đất Đông Bàn tập trung vật liệu thuê mướn nhân công khởi công xây dựng. Bên trong lập dựng Thần tẩm bên ngoài có bái đường; đông tây có hiên rộng chu vi làm tường ngói phía trước có tam quan; bên trái xây miếu thờ thần.

Tháng 3 năm Quý Sửu năm Tự Đức thứ sáu khởi công đến mùa thu năm ấy thì xong. Từ khởi công đến lạc thành vừa 7 tháng. Người chọn đất là tiến sĩ Đỗ Thúc Tịnh ở Hòa Vang và cử nhân Nguyễn Thành Châu (sau làm Tri huyện Hòa Đa). Ông Châu còn làm Hội chủ điều hành việc thi công. Tú tài Phạm Phú Hanh ... Phạm Hữu Chánh giải quyết tiền nong. Vật tư thì có cử nhân Nguyễn Hiển Doãn (sau làm Thừa biện Bộ Lễ); các học trò Thân Đức Uy Hồ Diêu... điểm xuyết kỷ cương cho nên việc là công của Thái thú vậy.

Phía trước đền là sông lớn phía sau là núi Trà Kiệu tuy không đồ sộ nhưng cũng có dáng vẻ tú lệ. Ôi! Đã ăn của đất tất phải báo đền mãi mãi không dám quên nguồn... Việc kiến trúc này là bày trên một mảnh đất tôn kính vậy!

Và ta nay đã 200 năm gội thuần giáo hóa sâu dày việc thành tựu ngày càng đông đảo từ nay về sau hương hỏa ngàn thu ngưỡng vọng núi cao thực làm cho người đời sau được phát đạt vô cùng vậy! Vậy nên ghi họ tên những viên quan khoa tước trong Hội đã cúng ruộng tiền như sau:

Đứng đầu danh sách là ba vị Tiến sĩ khoa Nhâm Dần Nguyễn Tường Phổ Giáo thọ lãnh đốc học; Hội nguyên khoa Quý Mão Phạm Phú Thứ Thượng thư Bộ Hộ trong Cơ mật viện; Đình nguyên Hoàng giáp khoa Ất Hợi Đốc học Quảng Trị (khuyết tên). Kế đến là 4 Phó bảng là: Phạm Hữu Nghị Hữu Tham tri Bộ Lễ; Nguyễn Tường Vĩnh Tuần vũ Phú Yên; Nguyễn Duy Tự Thị giảng học sĩ; Hoàng Diệu Án sát Bắc Ninh; và 2 võ tiến sĩ 36 cử nhân trong đó có cử nhân khoa Quý Mão - Nguyễn Thành Ý; cử nhân khoa Đinh Mùi - Ông Ích Khiêm...

Bia số 2 ghi danh sách đóng góp tiền của quan chức khoa bảng ấm sinh... Trong đó có tên 2 vị trong "Ngũ phụng tề phi" khoa Mậu Tuất 1898 là Phạm Tuấn và Phạm Liệu. Mức đóng không theo bắt buộc và ghi chép liệt kê đầy đủ khi chi vật liệu xây dựng là 5.025 quan chi công thợ các loại là 3.215 quan.

Bia số 3 chép: "Ở ngoài 9 châu còn có người ở huống chi sống trong một nước văn hiến học đạo của thánh nhân? Đạo trong thiên hạ không xưa nay. Nay hiến của cải sức lực người tuy một huyện một làng mà lòng sùng bái còn xưa mãi vậy. Nay dùng chất để cho ngàn vạn năm sau người trong toàn cầu ai cũng bảo rằng: "lớn lao thay đạo của thánh nhân".

Sau tiết lập Thu 5 ngày tháng 7 năm Duy Tân thứ chín (1915).

Kính chữa: Hồng lô tự khanh Phạm Tuấn đồng Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1898).

Kính soạn: Đốc học hưu trí Phạm Như Xương Nhị giáp Đình nguyên khoa Ất Hợi (1875)".

Văn bia bị vỡ nhiều đoạn trên bia có khắc tên 80 vị từ Tiến sĩ đến học sinh trong đó có tên của Tiến sĩ khoa thi năm Giáp Thìn (1904) Trần Quý Cáp và danh sách hàng trăm thí sinh và hào lý của các xã thôn trong 11 tổng cúng tiền.

Riêng bia số 4 được phục dựng tại lăng mộ của cụ Phạm Phú Thứ. Nội dung văn bia nói về công đức và công trạng của cụ (theo ý gia đình).

Những văn bia này là nguồn sử liệu quý giá giúp cho những nhà nghiên cứu hiểu thêm về vùng đất học Điện Bàn đồng thời tô điểm thêm cho truyền thống "tôn kính chữ thánh hiền" của cha ông ta trên bước đường xây dựng quê hương.

Phạm Văn Bính
(danangcuoituan/11.7.2010)

More...

Nhà sử học với kho tư liệu quý về biển đảo Việt Nam

By nguyenuyenthu

st1:*{behavior:url(#ieooui) } QĐND Online - Nói đến nhà sử học Nguyễn Đình Đầu một nhà nghiên cứu địa đồ bản đồ cổ nổi tiếng của Hội Khoa học lịch sử TP Hồ Chí Minh không ai lại không biết đó là người đã cất công trong thời gian dài sưu tầm những tài liệu quý hiếm về biển đảo của Việt Nam từ nhiều kho lưu trữ ở trong và ngoài nước.


Trong một ngôi nhà cổ tại góc cổng sau đường Nguyễn Du-Huyền Trân Công Chúa gần Dinh Thống Nhất nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu dẫn chúng tôi lên tầng 2 nơi mà ông có một kho báu khó ai có được. Đó là hàng trăm tấm bản đồ cổ khẳng định các chủ quyền của các vùng hải đảo Việt Nam mà ông đã cất công đi nhiều nơi đến nhiều bảo tàng có uy tín tại Pháp để sưu tầm.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu. 

Trong nghiên cứu khoa học nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã có nhiều công trình nghiên cứu và tác phẩm tiêu biểu như: Nghiên cứu vấn đề cân đong đo đếm của Việt Nam xưa (năm 1978) Mỏ đồng Tụ Long ở bên này hay bên kia biên giới Việt - Hoa các văn bia cổ triều Nguyễn các văn bản gốc về địa chính tên gọi các vùng Nam Bộ các địa danh tỉnh thành miền Nam v...v.... nhờ khả năng tiếng Pháp có được từ trước giải phóng công trình nào ông cũng chú tâm khai thác các nguồn sử liệu gốc tại các kho lưu trữ ở châu Âu.

Đặc biệt sau hơn nửa thế kỷ nghiên cứu địa lý lịch sử Việt Nam nhất là vùng Nam bộ và Nam Trung bộ ông Nguyễn Đình Đầu đã sưu tầm hơn 3.000 tấm bản đồ Việt Nam trong đó có hàng trăm bản đồ miêu tả rất tỉ mỉ những vùng thềm lục địa và các hải đảo của Việt Nam. Nhiều bản đồ rất chi tiết về các đảo thuộc 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam do nước ngoài thực hiện trong giai đoạn từ thế kỷ XV-IXX như tấm bản đồ của hải quân Pháp lập từ giữa thế kỷ 19.

Những tấm bản đồ nhà sử học sưu tầm được hầu hết là bản đồ Việt Nam qua các thời kỳ (từ thế kỷ 15) do người Việt người Trung Quốc người châu Âu châu Mỹ và cả người Ai Cập... vẽ hơn 500 năm trước khi trên đường mở mang chủ nghĩa tư bản tới khu vực Đông Nam Á. Để có được bộ sưu tập 3.00 tấm bản đồ cổ về Việt Nam (trong đó có rất nhiều bản đồ chứng minh quyền sở hữu của nước ta đối với quần đảo Trường Sa Hoàng Sa) ông Nguyễn Đình Đầu đã dành nhiều thời gian tiền bạc để đi sưu tầm kể cả các chuyến đi thăm ở các nơi trong nước nước ngoài.

Tại cuộc triển lãm về Hoàng Sa - Trường Sa: Biển đảo Việt Nam diễn ra vào ngày 1-9-2009 tại Nhà triển lãm Tp Hồ Chí Minh ông đã đóng góp nhiều tư liệu quý bản đồ hình ảnh. Đánh giá về những công trình khoa học của ông Nguyễn Đình Đầu Hội đồng giải thưởng mang tên Giáo sư Trần Văn Giàu đã tặng thưởng giải thưởng xuất sắc nhất về các công trình nghiên cứu năm 2009.

Sinh năm 1920 nay đã vào 90 tuổi song ông Nguyễn Đình Đầu vẫn rất minh mẫn trong nghiên cứu sưu tầm các tài liệu quý hiếm để khẳng định chủ quyền biển đảo nước ta nhất là 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông là một nhân sĩ trí thức tiêu biểu là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh Phó Chủ tịch Uỷ ban Ðoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh Ủy viên BCH Hội khoa học lịch sử Việt Nam (1988 - 1998) Ủy viên Hội đồng khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1989.

Phạm Bá Nhiễu

(qdnd.vn/ 28.06.2010)

More...

Một người xứ Quảng

By nguyenuyenthu

Nguyễn Văn Xuân và Nguyễn Nhật Ánh - hai
nhà văn xứ Quảng - Ảnh: T.Đ.T

Nhà văn nhà nghiên cứu nhà "Quảng Nam học" Nguyễn Văn Xuân đi xa vừa tròn ba năm. Nhân ngày giỗ lần thứ 3 của ông Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh Tạp chí Xưa và Nay phối hợp xuất bản cuốn sách Nguyễn Văn Xuân một người Quảng Nam tập hợp những bài viết của ông đăng trên Tạp chí Xưa và Nay.

1. Nổi tiếng trong làng văn từ năm 1937 khi vừa 16 tuổi nhưng tác phẩm của nhà văn - nhà văn hóa Nguyễn Văn Xuân ít được đưa lên mạng internet. Cho đến khi ông nằm xuống ít người biết đầy đủ về ông. Sau khi ông mất nhà nghiên cứu văn học Đặng Tiến sinh sống ở Pháp lúc đó đang có công việc ở Liege (Bỉ) đã viết: "Năm 1956 dưới bút hiệu Việt Hiến cùng với Thu Tâm (Võ Thu Tịnh) và Trần Lê Nguyễn anh (Nguyễn Văn Xuân) chủ trương biên tập Tạp chí Văn Nghệ Mới tại Huế ra được hai số thì bị chính quyền Ngô Đình Diệm đóng cửa vì tình nghi thân cộng"; "Nguyễn Văn Xuân phát hiện 80 hồi trong pho tuồng hát bội Vạn bửu tình trường của thời Tự Đức trên tổng số 120 hồi. Rất thông thái về tuồng anh viết liên tiếp nhiều bài về hát bội trên Tạp chí Tân Văn Sài Gòn; hay nhất là bài Trại Ba Công Chúa - tức là tuồng Địch Thanh. Nguyễn Văn Xuân sành văn hóa dân gian nhất là văn hóa địa phương.

Thỉnh thoảng anh có bài điểm sách phê bình sách đưa ra nhiều nhận xét thực tiễn và chính đáng thay vì những lý thuyết dông dài như nhiều người khác thời đó. Nguyễn  Văn Xuân là một tài năng lớn một học giả công tâm uyên bác ngay thẳng. Trong một thời gian dài anh là lương tâm văn hóa của chúng tôi trong một bối cảnh xã hội và lịch sử nhập nhằng...".

2. Nhà văn Thái Bá Lợi có nhiều kỷ niệm với ông trong suốt 30 năm từ khi hết chiến tranh cho đến lúc ngồi bên thi hài ông trong căn nhà cũ: "...Trong đời ít có ai mà không gặp một sự cố nào dù lớn dù nhỏ nhưng hoàn cảnh của ông thật là hy hữu. Đến năm 80 tuổi ông vẫn là lao động chính trong một gia đình có nhiều người khác thường. Trong căn nhà mà tôi được biết từ 1.4.1975 đến nay chẳng có gì thay đổi mà ngày càng xuống cấp thêm bởi người lao động chính đang bận kiếm sống để cái gia đình đặc biệt đó tồn tại. Nhiều lúc tôi tự hỏi không biết ông lấy đâu ra ý chí sức lực để chống chọi với hoàn cảnh. Cuộc chiến này của ông thật là oanh liệt người bình thường như chúng tôi thật khó hình dung ra nổi dù nó đã diễn ra hằng ngày trước mắt mình...

Những năm cuối đời ông thường nói với tôi về hai sự kiện: Vai trò của Dinh trấn Thanh Chiêm và cuộc chiến tranh chống ngoại xâm 1858-1860 của dân Quảng. "Đó là hai dấu son chói lọi trong lịch sử xứ mình cần được vinh danh và truyền đời cho con cháu...". Ngày nay các nhà nghiên cứu mà ta thường đọc ít có những tư duy độc lập như thế. Phần đông họ làm công tác biên khảo chứ chưa đạt đến cấp độ nghiên cứu để phát hiện vấn đề mới như ông. Chính đó là một khoảng trống khi cụ Xuân ra đi!".

3. Nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc trước sau vẫn gọi ông là "thầy Xuân" dù chưa học với ông ngày nào ở trường. Nhưng anh Quốc bảo: "Nếu không có "thầy" tôi khó có cơ hội gắn bó với những đề tài lịch sử ở Quảng Nam và Đà Nẵng" và "thầy Xuân ưa chơi với người trẻ hơn người già. Khác với nét mặt khắc khổ đượm vẻ kiêu hãnh cộng với vốn sống và vốn kiến thức thầy là người rất cởi mở và thích sống hết mình những khi có dịp. Chỉ "chọc" khẽ thầy có thể cho tuôn trào biết bao điều chứa chất bên trong thành những bài thuyết giảng hấp dẫn thành những câu thơ tình đọc rất say sưa hay những lời bình sâu sắc thường pha chất trào lộng... Tất cả bằng một giọng xứ Quảng rất nặng. Tôi không bao giờ quên cuộc hội thảo kỷ niệm hai nhân vật xứ Quảng: các cụ Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng (1992) tại Đà Nẵng Nguyễn Văn Xuân ngồi ở dưới phát biểu ý kiến; Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ đoàn chủ tịch xuống ngồi sát cạnh ông để nghe cho rõ những điều ông nói. Giọng thầy rất khó nghe nhưng khi đã lọt vào tai rồi là đi tới óc".

Anh Quốc kết luận: "Là người từng gắn bó tham gia nhiều công việc với các đồng nghiệp xứ Quảng của thầy tôi cũng cảm nhận được một điều: một cuộc hội thảo một tập kỷ yếu viết về lịch sử và văn hóa xứ Quảng mà vắng tên của thầy thì mọi người đều cảm thấy một cái gì đó không trọn vẹn một khoảng trống... Nguyễn Văn Xuân là người học rộng lại chuyên viết về xứ Quảng nên gọi thầy là nhà Quảng học hiểu theo nghĩa nào cũng đều đúng cả một tính cách và một kho tri thức".

Sau ba năm ông nằm xuống chúng tôi chỉ muốn nêu lại đây một đề nghị: Đặt tên ông cho một con đường ở Đà Nẵng Tam Kỳ hoặc Hội An (những thành phố quê hương ghi đậm dấu vết trong những trang viết của ông lúc sinh thời) như một sự tri ân của chúng ta còn là để tôn vinh cho bản sắc văn hóa của một vùng đất vậy. 

Hai tháng sau ngày Nguyễn Văn Xuân mất Tự điển Wikipedia đã lập "trang định hướng" về Nguyễn Văn Xuân (27.8.2007) với nội dung tóm tắt như sau:

"Nguyễn Văn Xuân (1921-2007) là một học giả nhà văn và thầy giáo Việt Nam. Ông sinh năm 1921 tại làng Thanh Chiêm xã Điện Phương huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Ông qua đời vào lúc 21 giờ 30 ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng.

Ông đã để lại cho hậu thế những tác phẩm như: Bão Rừng Dịch Cát Kỳ Nữ Họ Tống ... Ngoài sáng tác ông còn có những tác phẩm nghiên cứu lịch sử văn học như Khi những lưu dân trở lại Phong trào Duy Tân Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc...

Bên cạnh nghề văn Nguyễn Văn Xuân còn là một nhà giáo nhiều năm dạy học tại nhiều trường trung học. Ông còn hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu nghệ thuật tuồng bảo vệ văn hóa dân tộc ở miền Nam trước năm 1975.

Lối hành văn và cung cách hành xử với đời của ông phản ảnh những tấm gương của các nhà cách mạng xứ Quảng. Trong giai đoạn từ 1941 đến 1945 Nguyễn Văn Xuân cộng tác với Tạp chí Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội. Sáng tác chính của ông vẫn là những truyện ngắn trình bày những sinh hoạt đời thường cùng giới thiệu đề cao tâm hồn chất phác giản dị của lớp quần chúng lam lũ.

Trương Điện Thắng

(
thanhnien.com.vn. 03/07/2010) 

More...

Cổng chào Hà Nội không thể nhặt nhạnh từ nơi khác

By nguyenuyenthu

 

Ông Đào Ngọc Nghiêm. Ảnh: Đoàn Loan.
"Đây là công trình cần làm không đáng bao nhiêu. Điều tôi e ngại không phải tốn 50 tỷ đồng mà là không gian cổng chào liệu đã gắn công trình với ý nghĩa lịch sử." KTS Đào Ngọc Nghiêm Phó chủ tịch Hội Quy hoạch Kiến trúc đô thị Hà Nội bày tỏ quan điểm.
>
Chỉ xây cổng chào tạm chưa làm vĩnh cửu

- Ông nghĩ gì về kế hoạch xây cổng chào tại đường vào thủ đô trong dịp kỷ niệm 1000 năm?

- Ở các nước trên thế giới nhân ngày kỷ niệm chiến thắng... đều có công trình kiến trúc ở nơi ra vào đô thị. Ví dụ ở Pháp Ý... có Khải Hoàn Môn để kỷ niệm những chiến thắng lấy lừng. Cũng có đô thị làm cửa ô để đánh dấu sự phát triển của đô thị.

Hà Nội đón hòa bình lập lại cũng có cổng chào các gia đình tổ chức đám cưới cũng có cổng bằng bóng bay nên thành phố không thể không làm cổng chào dịp 1000 năm này.

Hà Nội từ dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội cũng đã bàn đến vấn đề xây dựng cửa ô để đánh dấu thời kỳ phát triển. Ví dụ trước đây Hoàng thành đánh dấu cửa ô của Hà Nội cổ hiện nay chúng ta cần xây dựng cửa ô để đánh dấu sự đô thị hóa đến thời điểm 1000 năm.

- Với số tiền 50 tỷ đồng xây dựng 5 cổng chào nhưng chỉ là công trình tạm hiệu quả của nó nên được nhìn nhận như thế nào thưa ông?

- Đây là công trình cần làm không đáng bao nhiêu so với kinh phí phục vụ đại lễ 1000 năm. Điều tôi e ngại không phải là tốn kém 50 tỷ đồng mà là hình thức tổ chức không gian cổng chào phải gắn công trình với ý nghĩa lịch sử.

Cổng chào làm không phải bằng vật liệu xây dựng kiên cố mà cần có thời gian thử nghiệm. Ví dụ trước khi làm lễ đài Ba Đình chào đón ngày giải phóng thủ đô chúng ta phải xây dựng lễ đài tạm sau này 2-3 năm thấy công trình hợp lý mới bắt đầu xây dựng kiên cố.

Hiện nay chỉ còn 100 ngày là đến đại lễ thời gian quá ngắn nên chúng ta phải đặt vấn đề chất lượng công trình. Với chất liệu đơn giản có thể làm được. Nhưng cần phải cẩn trọng để đảm bảo độ bền vững và chất lượng văn hóa của công trình phải thể hiện bản sắc văn hóa của Hà Nội chứ không phải nhặt nhạnh các nơi khác vào.


Cổng chào đặt trên quốc lộ 5 có ý tưởng cọc gỗ ở sông Bạch Đằng. Ảnh: Sở Quy hoạch Kiến trúc HN.

- Theo ông vị trí đặt các cổng chào mà UBND thành phố vừa đưa ra có điểm gì đáng nói?

- Nếu là cổng chào phải đặt ở các tuyến đường xuyên tâm. Hà Nội hiện có 7 tuyến xuyên tâm chưa kể tuyến đường mới trong quy hoạch lần này vạch ra. Chọn vị trí nào phải dựa vào nội dung của cổng chào hình thức và địa danh đó có hành trình văn hóa đến mức nào.

Trong nhiều cuộc họp bàn về xây dựng cổng chào có đặt ra vấn đề đã là cổng chào ở quốc lộ phải có không gian để khách đến có thể cảm nhận được Hà Nội đang diễn ra đại lễ. Vì vậy nó phải là công trình chủ thể mang điểm nhấn của kiến trúc như vậy mới mang tính chất là cổng chào. Đặt cổng chào ở khu vực Pháp Vân - Cầu Giẽ là thích hợp thể hiện mối liên kết Hà Nội với các tỉnh phía nam.

Phía tây Hà Nội có quốc lộ 32 và đường Láng - Hòa Lạc vì vậy đặt cổng chào ở Láng - Hòa Lạc cũng hợp lý vì đây có mối liên hệ gắn kết Hà Nội với các tỉnh đô thị xung quanh nhiều khu vực như: làng văn hóa dân tộc khu công nghệ cao... Ngoài ra đây là khu vực mang diện mạo mới cho Hà Nội.

Quốc lộ 5 là đường hướng ra biển tuy mất tính chất quốc lộ song vẫn là tuyến lịch sử. Vị trí đặt tại xã Dương Xá là nơi có đền thờ Ỷ Lan là thích hợp. Quốc lộ 1A mới có mối quan hệ với các tỉnh phía bắc cũng nên đặt cổng chào.

Vì Hà Nội chào đón nhân dân cả nước và nước ngoài đến dự lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội theo tôi nên làm cổng chào tại tất cả 7 tuyến đường xuyên tâm tức là ngoài 5 vị trí như đề xuất còn thêm cả quốc lộ 32 và 6.

* Ảnh phối cảnh 5 cổng chào ở các cửa ngõ thủ đô

- Nếu coi cổng chào là công trình có ý nghĩa đặc trưng cho Hà Nội thì theo ông các ý tưởng kiến trúc vừa đề xuất có thể hiện giá trị riêng của thủ đô?

- Khi khách nước ngoài hay đồng bào cả nước đến Hà Nội nhìn cổng chào có thể thấy được Hà Nội đang diễn ra sự kiện gì. Vì vậy thiết kế của cổng chào phải đưa ra những gì mang tính đặc trưng của Hà Nội. Tôi thấy các hình tượng thiết kế chưa hợp lý chưa gắn giá trị văn hóa và lịch sử của thủ đô Hà Nội chưa gắn bản sắc văn hóa của thủ đô. Như trống đồng là của cả nước; chim hạc chỉ thể hiện trên trống đồng nên chưa phải đặc trưng; cọc gỗ ở sông Bạch Đằng không gắn với Hà Nội.

Những lần trước đây có đề xuất hình tượng cổng tam quan logo Hà Nội song lần này không có. Hiện nay kiến trúc cổng chào theo không gian mở là thích hợp nhưng phải có điểm nhấn mang đặc trưng.

Đoàn Loan thực hiện

(vnexpress.net. 26/6/2010)

More...

Đôi lời với tác giả Lưu Phong và Ban biên tập báo An Ninh thế giới cuối tháng về bài viết "Có tín ngưỡng nhưng không được dị đoan". Trúc Trần-Quảng Lâm

By nguyenuyenthu

Đôi lời với tác Giả Lưu Phong và Ban biên tập báo An Ninh thế giới cuối tháng về bài viết "Có tín ngưỡng nhưng không được dị đoan"*
Trúc Trần - Quảng Lâm



image

Thưa cùng ban biên tập báo ANTG và tác giả Lưu Phong vô cùng dũng cảm khí phách hơn người dù chưa rõ thực hư "DI THẢO" của cụ Phan Bội Châu có đúng nguyên văn như vậy không? Vì lẽ thường TAM SAO THÂT BỔN; việc "lấy râu ông nọ chắp cằm bà kia" lâu nay không còn là chuyện lạ!

Xin phép được tự giới thiệu về mình tôi là độc giả thường xuyên của báo ANTG cuối tháng  kể từ khi tờ báo ra những số đầu tiên cho đến nay. Trong bài viết này tôi sẽ không nêu ra một nhận xét hay phê bình nào về nhân vật đã quá nổi tiếng mà ông Lưu Phong đã trích dẫn. Nhà yêu nước Phan Bội Châu   một trong những thủ lĩnh của phong trào Đông Du của thế kỷ trước được lịch sử nước nhà ghi nhận. Dưới góc độ của một người đọc tôi chỉ dẫn lại những nội dung đầy ẩn ý mà tác giả Lưu Phong đã nhấn mạnh trong bài báo của mình để mọi người có dịp "chiêm nghiệm" có cái nhìn khách quan về đề tài mà tác giả đã "dụng công nghiên cứu" công khai trên mục "KHOA HỌC VÀ NHỮNG NỀN VĂN MINH" (ANTG - CT ). Trích đoạn di thảo (chữ Hán viết tay của cụ Phan Bội Châu) - Chắc giờ này nằm sâu trong lòng đất lạnh. Sau 70 năm (PBC 1867 - 1940) "Ông già bến Ngự" "Ông đầu Xứ Nghệ" (Những cái tên mà người đời gọi cụ) sẽ nở trên môi nụ cười rạng rỡ mãn nguyện vì lớp hậu sinh hôm nay đã rất không tầm thường hiểu được nỗi lòng của người xưa đồng cảm và chia sẻ sâu sắc với mình.

Không giống như đại thi hào dân tộc Nguyễn Du từng viết: "BẤT TRI TAM BÁCH DƯ NIÊN HẬU - THIÊN HẠ HÀ NHÂN KHẤP TỐ NHƯ". Không đợi tới 300 năm chỉ cần 70 năm thôi hậu thế đã có người đọc di thảo của ông viết về ông với tất cả tấm lòng ngưỡng mộ hiếu kính. Xin trích lại nguyên văn những lời vàng ngọc: "Trong tạp ký" Phan Bội Châu cho rằng: tục ma quỷ ở Việt Nam rất thịnh hành cũng giống như tục sùng Phật ở Ấn Độ tục thờ Thần ở Trung Hoa... Một người nho học theo Phan Bội Châu thì cần phải rất thận trọng với đạo Phật vì như người xưa đã chỉ rõ "Đạo Phật và đạo Khổng rất mâu thuẫn với nhau cho nên có người bảo đạo phật là KẺ THÙ của đạo Khổng". Trong cách nhìn nhận của Phan Bội Châu: làm chùa nuôi sư in kinh xây tháp khắc chuông đúc tượng hiến quả dâng hương... để cầu những cái mà người đương thời cho là hạnh phúc thực ra chỉ là việc vô bổ mà thôi. Đó là vì làm sao? Phan Bội Châu viết: "Các người sở dĩ làm như vậy chẳng qua là để cầu hạnh phúc mà thôi nhưng cái mà các người bảo là hạnh phúc người ngoài người ta bảo đó là tai họa đấy - Những cái mà các người cầu xin là sống lâu nhiều con cái nhiều vàng bạc nhiều hầu non trẻ đẹp xe sang ngựa tốt vóc nhiễu đầy nhà đời nầy lưu truyền qua đời khác không bao giờ hết - Đấy là hạnh phúc của các người đấy - Thế nhưng các người đã nhầm các người đã nhầm to rồi đấy..."

Thưa cùng ban biên tập báo ANTG và tác giả Lưu Phong vô cùng dũng cảm khí phách hơn người dù chưa rõ thực hư "DI THẢO" của cụ Phan Bội Châu có đúng nguyên văn như vậy không? Vì lẽ thường TAM SAO THÂT BỔN; việc "lấy râu ông nọ chắp cằm bà kia" lâu nay không còn là chuyện lạ!

Chắc hẳn tôi và bạn đọc gần xa dù yêu mến tờ báo đến đâu cũng rất khó đồng cảm trước những lời lẽ đao to búa lớn của tác giả được. Ngụ ý của tác giả là gì? Xin nhường lời cho bạn đọc và các tầng lớp yêu kính - Tin tưởng đạo PHẬT tự bình phẩm - nhận xét. Điều quan trọng là ngày nay sự phát triển đến chóng mặt của công nghệ thông tin - truyền thông toàn cầu - những vấn đề sự kiện lớn nhỏ mọi người đều có thể nắm bắt được dễ dàng nhanh chóng và chính xác! Có người định nghĩa rằng "VĂN HÓA LÀ CÁI CÒN LẠI SAU KHI TẤT CẢ NHỮNG THỨ KHÁC ĐÃ MẤT ĐI" - Chúng ta đang tiến tới tổ chức lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Trong những năm qua với sự chỉ đạo lãnh đạo của Đảng và nhà nước các nhà khoa học hàng đầu trên nhiều lĩnh vực: lịch sử khảo cổ văn hóa nghệ thuật dân tộc học... Các nghệ nhân đã làm việc hết sức mình để tôn tạo phục chế tái tạo lại những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mà cha ông tiền nhân chúng ta đã để lại. Sau 10 thế kỷ thăng trầm qua những khúc biến thiên của lịch sử - hệ thống văn hóa vật thể như: chùa đình tháp chuông tượng kinh điển... có dịp hồi sinh trở lại. Không phải ngẫu nhiên mà sau 25 thế kỷ Liên hiệp quốc đã bình chọn và tổ chức Khánh đản cho giáo chủ: THÍCH CA MÂU NI PHẬT tại nhiều nơi trên thế giới.  Năm 2008 tổ chức tại Hà Nội -  Thủ đô nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sinh thời bộ óc vĩ đại của thế kỷ 20 nhà bác học ALBERT EINSTEIN từng viết: "Nếu có một tôn giáo đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là PHẬT GIÁO!... Vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học - Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu vượt lên trên mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện SIÊU NHIÊN lẫn TỰ NHIÊN đặt trên căn bản ý thức và đạo lý - xuất phát từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên và trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa - PHẬT GIÁO sẽ đáp ứng được các điều kiện đó. Gần đây cụm từ: "PHẬT GIÁO VIỆT NAM LUÔN ĐỒNG HÀNH CÙNG LỊCH SỬ DÂN TỘC" xuất hiện ngày càng nhiều trong các bài diễn văn của những người lãnh đạo cao nhất của ĐẢNG và chính phủ nước CHXHCNVN. Trên các phương tiện thông tin đại chúng - Đài truyền hình Việt Nam liên tục phát đi phát lại nhiều lần: Lịch sử chùa Một Cột Bái Đính Trấn Quốc...Tượng Phật A Di Đà có 1 không 2 ở Việt Nam ... Để giới thiệu với bạn bè chúng ta khắp nơi trên trái đất này - khu thắng tích Yên Tử với quy mô hoành tráng cũng được nhà nước chính thức đầu tư khởi công xây dựng đó cũng là chân lý - đạo lý ngàn đời của dân tộc Việt Nam - "uống nước nhớ nguồn". Xin có đôi lời với nhà báo Lưu Phong có thể tác giả là người theo đạo vô thần nên cố tình hiểu rất sai về Phật giáo - Triết lý căn bản của đạo Phật đó là: Nhân quả và Nghiệp báo - Anh tệ bạc với người kết quả là anh sẽ bị người đối xử tệ bạc trở lại! Anh đối xử thô bạo tệ bạc với thiên nhiên thì sẽ đón nhận quả báo ngay tức khắc! Chắc hơn ai hết tác giả hiểu điều đó! Đạo Phật và đức Phật không phải là thần linh có quyền ban phước hay giáng họa! Phúc họa phụ thuộc vào thái độ cách sống của từng cá nhân từng giờ từng ngày... Ngậm máu phun người thì chắc chắn làm bẩn miệng mình. Trồng cây hôm nay tương lai sẽ cho ta quả ngọt bóng mát... Ngược lại không trồng mà triệt phá đốn ngã thì kết quả là anh và con cháu sẽ sống lang thang đói khát và vất vưởng - Đạo Phật không phải là lạc viên chùa chiền cũng không phải là nơi cầu ước được vinh thân phì gia! "Ly nước sạch sẽ nhất vẫn ẩn chứa trong đó vô số vi trùng". Đừng vì một vài hiện tượng mà vội vàng kết luận đánh giá! Qua hai triều đại LÝ - TRẦN (1010 - 1400). Non 4 thế kỷ khi Nho giáo chưa thịnh hành Đạo Phật là Quốc giáo. Nhà chùa là trường học nhà sư là thầy giáo. Vua và vương tử các danh tướng hầu hết là Phật tử. Chính nhà chùa nhà sư đã cưu mang đùm bọc hun đúc đào tạo nên vị vua anh minh LÝ CÔNG UẨN. Cũng đừng quên nhà Trần 3 lần chiến thắng giặc xâm lược Nguyên -Mông giữ yên bờ cõi. "Các vua nhà Trần xem ngai vàng như đôi dép rách". Xong chiến tranh Phật Hoàng Trần Nhân Tông lên non Yên Tử để lại cho đời câu nói bất hủ "Những ai có mắt tinh đời - hãy cố bình tâm xem lại. Cất mình vượt khỏi hang sống chết giang tay xé toạc lưới ái ân chẳng nề trai gái ai cũng nên tu bất luận trí ngu đều có phần cả".

Theo lẽ thường những danh nhân vĩ nhân trong lịch sử nhân loại đều xứng đáng được người đời xưng tụng đúc tượng nghiêng mình kính cẩn. Nước Mỹ cách xa chúng ta nửa vòng trái đất văn hóa phong tục đều khác biệt vậy mà những vị tổng thống của họ từ khi lập quốc đến nay đều được tôn trọng và đúc tượng ngay khi họ còn tại vị các nhà khoa học nghệ sĩ lớn cũng vậy!

Sau ngày đất nước thống nhất chúng ta có nhiều công trình rất có ý nghĩa giáo dục cho hôm nay và mai sau như: Quảng trường Ba Đình Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh... Những nghĩa trang phù diêu đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ ngày đêm nghi ngút khói hương. Nghi thức tôn giáo "Cầu siêu bạt độ" đã diễn ra trên phạm vi cả nước với qui mô lớn nhỏ. Những nghĩa cử cao đẹp như thế há là vô nghĩa cả sao? Những người lãnh đạo cao nhất của Đảng Nhà nước có cái tâm trong sáng như pha lê tầm nhìn bao quát và xuyên suốt há đều nhầm lẫn cả sao? Thật là vu khống thiển cận vô tình không thể tưởng!

Trong kinh Pháp cú   đức giáo chủ Thích ca Mâu ni từng nói rằng: "Không có hương hoa nào bay ngược chiều gió thổi chỉ có hương người đức hạnh bạt cả gió 4 phương". Người cũng từng nói: "Nếu con muốn thoát khỏi sự sự hãi con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi". "Thần linh nói cho đúng cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ". Hãy lắng nghe các nhà khoa học nghiên cứu cuộc đời đức Phật kết luận đẻ có cái nhìn khách quan:

"Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi đức Phật trong cơn tức giận chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi đức Phật kể cả trong lúc tình cờ". "Đức Phật thuyết giảng không phải để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe". "Đức Phật không giải thoát con người nhưng ngài dạy: Con người phải tự chính mình giải thoát cho chính mình. Như chính Ngài tự giải thoát cho chính Ngài".

"Sự khác biệt của đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt của một người bình thường và một người mất trí. Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường". Xin mượn lời của nhà báo Hải Triều trên chuyên san Đạo Phật Ngày Nay để kết thúc bài viết này: "Đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ. Giáo lý nhà Phật luôn mang lại một đời sống hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại... Niềm tin sâu sắc của quần chúng Phật tử có CHÁNH KIẾN đối với PHẬT có thể nói rằng: Không một luận điệu nào có thể làm lung lạc  suy chuyển càng không một thế lực nào có thể làm lui sụt ý chí tu hành giải thoát của người con Phật khi họ đã có niềm tin và định hướng.

Thật ra những luồng tư tưởng bài xích phê phán kia chẳng qua chỉ là một trong muôn hiện tượng vốn có trong thế giới tương đối này. Ví như phiến quân Taliban chỉ có thể dùng bom đạn tàn phá những pho tượng Phật ở Afgannistan chứ không thể nào làm suy sụp niềm tin Phật pháp của hàng triệu trái tim người con phật trên thế giới. Có điều chúng ta cũng cần cảnh giác với chủ nghĩa khủng bố đang có mặt khắp hành tinh này. Chúng không đơn thuần chỉ ôm bom lao vào chỗ đông người kích nổ chúng không chỉ đánh bom ở nhà ga tàu điện ngầm nơi thờ phượng... Mà chúng còn dùng ngòi bút len lõi vào đời sống văn hóa tâm linh của nhân loại dưới cái mác của những nhà học thức cùng với cái bẫy "nhiệt tình" đi xây dựng đời sống văn minh cho nhân loại".

Tháng 6 năm 2010
Trúc Trần - Quảng Lâm


* : (ANTG cuối tháng - Trang 18 - Mục Khoa học và những nền văn minh - Số 106 tháng 5/2010).
Có thể xem online bài viết tại đây

(daophatngaynay.com/vn/24.6.2010)

More...

Coi chừng nhiễm bệnh "lơ mơ... lịch sử"!

By nguyenuyenthu

COI CHỪNG NHIỄM BỆNH "LƠ MƠ... LỊCH SỬ"!

NUT: Một trong những đề tài mà các nhà văn nhà thơ hay dựa vào để sáng tác đó là lịch sử. Đề tài này gắn liền với các sự kiện lịch sử liên quan đến các khía cạnh: nhân vật địa điểm thời gian diễn biến sự việc... Sáng tác thơ văn liên quan đến lịch sử thì cần phải hiểu rõ lịch sử. Nếu không sẽ dễ dẫn đến nhiễm bệnh "lơ mơ... lịch sử" và nhiều khi phải "chết" một cách thảm thương. Văn thi sĩ coi chừng nhiễm bệnh nguy hiểm này nhé!

Sau đây xin giới thiệu một số trường hợp văn thi sĩ bị nhiễm bệnh "lơ mơ... lịch sử".


Trần Quốc Tuấn... bóp nát quả cam?

TT - Ngày 10-6 ông Đàm Quang Hát - trưởng ban quản lý đền thờ Trần Hưng Đạo tại TP Nha Trang (Khánh Hòa) - cho biết vừa phát hiện một sự nhầm lẫn không thể chấp nhận được trong bài thơ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn của tác giả Khiết Minh (tên thật là Huỳnh Tấn Minh trú tại TP Nha Trang Khánh Hòa) đăng trong tập thơ Lời thương mở lối của nhiều tác giả do NXB Văn Hóa Thông Tin ấn hành năm 2010.


Bài thơ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn in trong tập thơ Lời thương mở lối do NXB Văn Hóa Thông Tin ấn hành - Ảnh: Văn Kỳ


Theo chỉ dẫn của ông Hát chúng tôi tìm đọc bài thơ trên và đi từ bất ngờ đến... bất bình khi tác giả bài thơ đã nhầm lẫn giữa hai nhân vật lịch sử Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) và Trần Quốc Toản! Bài thơ được sáng tác năm 2008 gồm 16 câu nội dung ca ngợi tướng quân Trần Hưng Đạo là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông.

Tuy nhiên tác giả Khiết Minh lại viết: Tuổi trẻ phi thường trí tuyệt luân/ Đứng ngoài nghe lén việc quan quân/ Bình Thang hội nghị không cho dự/ Bóp nát quả cam quyết tự thân. Ngoài ra còn có câu: Hưng Đạo dựng cờ thêu sáu chữ/Bạch Đằng thủy chiến giặc tàn vong.

Đây là một sự nhầm lẫn không thể chấp nhận được bởi ngay cả học sinh tiểu học cũng biết phân biệt hai nhân vật lịch sử lừng danh này. Và trong Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi rõ: Trần Quốc Toản vì nhỏ tuổi nên không được vua Trần Nhân Tông cho vào dự Hội nghị Bình Than (1282 không phải Bình Thang như chữ trong bài thơ) phải đứng bên ngoài nên "hổ thẹn phẫn khích tay cầm quả cam bóp nát lúc nào không biết".

Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rõ chính Trần Quốc Toản đã viết lên cờ sáu chữ "Phá cường địch báo hoàng ân" để dẫn đầu đội quân gồm hơn 1.000 gia nô và thân thuộc tham gia chống giặc Nguyên. Câu chuyện về vị anh hùng nhỏ tuổi này còn được kể trong cuốn sách Lá cờ thêu sáu chữ vàng nổi tiếng nửa thế kỷ nay của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Còn câu chuyện của người anh hùng Trần Quốc Tuấn thì khác. Khi diễn ra Hội nghị Bình Than ông đã 54 tuổi.

Nhà xuất bản không hiểu do không nắm vững kiến thức hay quá cẩu thả mà cho xuất bản bài thơ trên. Ông Đàm Quang Hát cho biết: "Tôi là người lo việc hương khói cho đền thờ Trần Hưng Đạo bao nhiêu năm nay vô cùng bức xúc khi một nhà thơ có thể nhầm lẫn chết người như thế. Theo tôi nên hủy bài thơ này bởi nó sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của thế hệ mai sau".

Lời thương mở lối là tập thơ tập hợp các bài thơ của khoảng 140 tác giả trong Câu lạc bộ Văn học - Trung tâm Văn hóa Khánh Hòa nhân kỷ niệm câu lạc bộ này tròn 20 tuổi.

VĂN KỲ

(tuoitre.vn. 12/06/2010)


Văn sĩ thi sĩ lơ mơ... lịch sử

TT - Trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày thứ bảy (12-6-2010) có bài viết "Trần Quốc Tuấn... bóp nát quả cam?" phản ánh một nhầm lẫn về hai nhân vật lịch sử Trần Quốc Tuấn và Trần Quốc Toản trong bài thơ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn của Khiết Minh (in trong tập Lời thương mở lối NXB Văn Hóa Thông Tin 2010) một sự nhầm lẫn được cho là "từ bất ngờ đến... bất bình".

Thật ra chuyện văn sĩ thi sĩ Việt Nam... lơ mơ về lịch sử nước nhà không là chuyện mới. Xin dẫn ra đây vài chuyện:

- Tạp chí Sông Hương số tháng 8-1997 có đăng một chùm thơ ba bài của T.Ð. một nhà thơ "tên tuổi" trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Ðó là ba bài thơ viết về ba nữ nhân vật lịch sử Việt Nam: Huyền Trân công chúa Mỵ Nương và Dương Vân Nga.

Tiếc rằng không rõ do đãng trí hay không thuộc sử mà trong bài thơ thứ nhất nhà thơ T.Ð. đã cho rằng Chế Bồng Nga vì muốn cưới Huyền Trân công chúa nên đã cắt đất hai châu Ô Lý cho Ðại Việt (!). Thật ra người làm việc đó là Chế Mân. Còn Chế Bồng Nga phải ngót 70 năm sau sự kiện cắt đất nói trên (1306) mới xuất hiện trên chính trường Champa và là người đã mấy lần cất quân tiến đánh Ðại Việt dưới các triều vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) Trần Duệ Tông (1373-1377) Trần Phế Ðế (1377-1388) Trần Thuận Tông (1388-1398) và bị tử trận tại Hoàng Giang (Hưng Nhân Thái Bình) năm 1790.

Ở bài thơ thứ hai thì nhà thơ lại cảm thông cho Mỵ Nương mà nhà thơ cho là con gái của Thục Phán An Dương Vương (!) vì tình yêu mà đã trao nỏ thần cho Trọng Thủy nên mới dẫn đến mất nước. Phải là Mỵ Châu mới đúng chứ vì Mỵ Nương là nhân vật của truyện Trương Chi - Mỵ Nương chứ không phải vợ của Trọng Thủy như nhà thơ T.Đ. đã cảm tác.

- Tháng 10-1999 báo Tiền Phong khởi đăng truyện lịch sử dài kỳ của nữ văn sĩ N.T.A. viết chuyện Nội tán Nguyễn Khoa Ðăng thời chúa Nguyễn Phúc Chu (cầm quyền ở Đàng Trong từ năm 1691-1725) dẹp lũ giặc cướp ở truông nhà Hồ. Viết truyện lịch sử nhưng nhà văn lại không am hiểu lịch sử nên cứ gọi Nguyễn Phúc Chu là vua trong khi vua nước ta thuở đó là vua Lê Hi Tông (1676-1705) và Lê Dụ Tông (1705-1729) còn Nguyễn Phúc Chu chỉ xưng là chúa cai quản đất Ðàng Trong mà thôi.

Nhà văn N.T.A. còn đặt ra chức quan Cơ mật viện đại thần cho một nhân vật trong truyện của mình. Thật ra chức quan này không hề có trong thời kỳ chúa Nguyễn vì mãi đến triều Minh Mạng (1820-1841) nhà vua mới chính thức cho lập Cơ mật viện. Từ đó trở đi mới có chức Cơ mật viện đại thần.

- Cũng trên tạp chí Sông Hương số xuân Mậu Dần (tháng 2-1998) có đăng bài "Tản mạn chuyện hổ" của tác giả Ð.M.T.. Trong bài viết này Ð.M.T. kể chuyện vua Gia Long nằm mơ thấy con hổ đen bay đến tỉnh giấc thấy Nguyễn Hữu Tiến đứng hầu bên cạnh sắc phục màu đen. Thật phi lý hết sức vì vua Gia Long sinh năm 1762 thăng hà năm 1820 còn Hổ uy đại tướng Nguyễn Hữu Tiến sinh năm 1602 mất năm 1665 làm sao mà đến hầu vua Gia Long được.

Chuyện này có chép trong sách Ðại Nam liệt truyện tiền biên nhưng người nằm mộng thấy con hổ đen bay đến và khi tỉnh giấc thì gặp Hổ uy đại tướng Nguyễn Hữu Tiến chính là Ðào Duy Từ (1572-1634). Không rõ tác giả Ð.M.T. có đọc sách Ðại Nam liệt truyện tiền biên hay không mà lại "đem râu ông nọ cắm cằm bà kia" như vậy.

Xem ra chuyện các nhà văn nhà thơ nước ta chỉ "biết văn mà không rành sử" không là chuyện hiếm. Đáng buồn thay! Và cũng tai hại thay!

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

(tuoitre.vn. 14/06/2010)


More...