Quê tôi - ngày ấy bây giờ. Nguyễn Uyên Thu

QUÊ TÔI -

NGÀY ẤY BÂY GIỜ

NGUYỄN UYÊN THU



 

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ở Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Đó là cái mốc son đánh dấu nước Việt Nam độc lập ra đời. Ngôi làng quê nhỏ bé của tôi bên dòng sông Thu Bồn cũng chuyển dời sang một trang sử mới.

Trước thời điểm ấy ở làng quê tôi suốt bao tháng ngày dài những người nông dân hai sương một nắng cứ chạy theo miếng cơm manh áo từng bữa mà đến lúc giáp hạt vẫn là nỗi buồn lo canh cánh miên man... Chỉ có ngôi chợ làng quê tôi bến sông quê tôi là đầy ắp những tiếng nói cười và những bước chân của khách thương hồ đến rồi đi theo những cánh thuyền giong ruỗi.

Mang tiếng làm nông nhưng phần lớn người dân quê tôi chỉ đi làm thuê cấy rẽ cho một số người có ruộng. Nghe kể lại mỗi mùa gặt xong mỗi gia đình gom lại được vài chục ang lúa đổ vào ghè cất là coi như khá lắm rồi. Nói vài chục ang có thể không hình dung ra là bao nhiêu ký gạo nhưng nếu biết rằng mỗi ang lúa như thế sau khi xay giã giần sàng chỉ còn khoảng 5 6 ký. Người dân quê tôi không ăn cơm trắng[1] mà thường là ăn cơm độn[2] có khi một hạt cơm phải cõng vài lát sắn khoai. Chẳng mấy khi được ăn cơm trắng với cá ngon. Có một câu hát phổ biến ở vùng Quảng Nam xưa nghe ra đắng cay tràn ngập: "Cha mẹ nàng đòi ăn cá thu gả con xuống biển mù mù tăm tăm"...!

Quê tôi có lẽ được thiên nhiên ưu đãi cho ở bên bờ một con sông tầm cỡ lớn nhất xứ Quảng nên có những lợi thế nhất định về mặt giao thông đi lại trao đổi mua bán thông tin liên lạc...Bến sông quê tôi ngày ấy thật sầm uất ghe thuyền thường xuyên ghé đậu rồi nhổ neo để lại những thứ trên nguồn dưới biển đều có. Mắm muối cá tôm khô. Dầu rái mây. Cả những sản phẩm của các làng thủ công nổi tiếng trong tỉnh: gốm Thanh Hà chiếu Bàn Thạch đũi Đông Yên. Làng tôi khi trước có một vạn chài gồm những người chuyên sống bằng nghề chài lưới nghề đưa đò hoặc chuyên chở thuê qua những chuyến đường dài. Nhưng dường như cái mà thiên nhiên ưu đãi cho làng quê tôi có ý nghĩa nhất đó là một bãi phù sa màu mỡ tạo điều kiện cho việc trồng dâu nuôi tằm kéo tơ... Trong làng có một số gia đình chuyên việc tằm tang luôn ở tư thế "ăn cơm đứng"[3]. Ông bà nội ngoại tôi lúc ấy là những gia đình có "buồng tằm" có những sào dâu xanh ngọt ngào phù sa. Nghề này cũng có lúc được lúc không có "mí" trúng "mí" thua. Cũng do cơ may như thế nên cha mẹ tôi có dịp đến với nhau. Những bãi bồi không phải chỉ có trồng dâu nuôi tằm mà còn thích hợp cho việc canh tác các loại cây khác như: bắp (ngô) đậu (đỗ) ớt... Cũng thật hay cho cái làng ngày xưa ngoài diện tích đất tư mà phần lớn là của địa chủ phú nông trung nông còn có một bộ phận đất công làng xã cụ thể ở làng tôi là đất bãi bồi. Bởi theo truyền ngôn kể lại sở dĩ bãi bồi màu mỡ có được là do nhiều thế hệ có công bồi trúc là của cải chung của làng cố nhiên trong đó có bộ phận đã là đất tư rồi. Theo lệ đất làng chia cho con dân trong làng canh tác. Có một phần đất chưa ổn định gọi là đất "bạch sa". Đáng chú ý là ở phía trước ngôi đình bề thế đứng uy nghiêm trên cao có một cái bàu tương đối lớn nằm trong hệ thống một dòng chảy khô cạn vào mùa hè vốn trước là dòng sông đã đổi dòng ra tận phía ngoài xa cách chỗ cũ chừng hơn cây số. Cái bàu đó dân làng gọi là Bàu Đình. Mùa nước lụt người ta thường thả "chươm" trong đó có lẽ để nhử cá tập trung đến và giữ chúng lại hoặc là một biện pháp đề phòng tích cực chống thả lưới kéo "tủ" bắt trộm cá về sau chăng? Hàng năm cứ ra giêng hai làng đứng ra tổ chức đấu giá cho những người trong làng và những người khác làng thu hoạch cá ở Bàu Đình để làng có thêm kinh phí trang trải cho công việc chung như cúng tế xuân thu nhị kỳ hằng năm... Khu vực Bàu Đình dần dần khô cạn khi tiến gần đến hạ  nhân dân tranh thủ trồng rau muống trên những ô khoảnh nhỏ nhắn tương đối vuông vức. Đất ở bàu khá tốt người ta trồng rau muống từng bụi. Rau trồng chẳng bao lâu thu hoạch được. Cứ cắt từng luống một hết luống này đến phiên luống khác do đó hằng tuần cắt đến mấy lần. Cha mẹ làm ở đồng bãi hoặc làm công việc vặt vãnh ở nhà. Họ thường sai con cái ra bàu cắt rau là công việc tương đối nhẹ nhàng.

Tôi còn nhớ mùa hè năm đó vào một buổi chiều cha mẹ tôi sai tôi và đứa em trai kế xách hai cái rổ một to một nhỏ đi cắt rau muống ở Bàu Đình. Chúng tôi bấy giờ khoảng 5 7 tuổi là cùng. Hai anh em đội hai cái nón cời - những chiếc nón mà người lớn đã đội xong rách tươm ở các vành lớn phía ngoài họ cắt các vành đó bỏ đi còn lại những vành trong tương đối lành lặn - bước chậm chạp tiến ra nơi có khoảnh rau muống mẹ tôi trồng.

Buổi chiều hè trời đổ Nồm gió từ hướng đông nam thổi tới sao mà mát rượi! Chúng tôi ngồi xuống cắt từng bụi rau một theo từng hàng như mẹ tôi dặn dò kỹ lưỡng trước khi đi.

Chiều càng xuống gió càng mát. Trong cái thinh lặng của chiều quê vang lên những tràng tiếng gáy dập dồn của loài dế đá nào là than nào là vàng pha... trên đôi cánh mỏng thường có những đường vân rất đẹp. Đối với tụi con trai ở quê thường có thú vui là đá dế. Chú Mười tôi vốn là người con út của ông bà nội lớn hơn tôi cỡ chục tuổi cũng thường bắt dế ngoài bãi mang về cho từng cặp đá với nhau chọn những con nào thuộc loại hay nhất để riêng ra coi như là "báu vật" rủ bạn khác ở làng đưa dế đến thi đấu. Thật là rộn ràng làm sao khi hai con dế ráng sức há miệng to giương "kềm" nhọn hoắc tiến sát vào nhau hai chân sau bám chắc vào đất đẩy đối phương vào thế thụt lùi. Tiếng hò reo cổ vũ cho một trận đá dế nghe rộn ràng lắm. Cuối cùng rồi cũng có con thắng cuộc. Tiếng gáy vang cao của kẻ chiến thắng sao mà oai vệ và đầy tính ngạo nghễ đến thế! Những tiếng gáy kéo dài lanh lảnh vang xa. Chú tôi chọn những con dế "chiến" bỏ chúng vào những chiếc hộp các tông nhỏ vốn là hộp đựng đèn sáp đã bỏ đi. Chú tôi cẩn thận dùi những lỗ nhỏ để dế thở và không quên bỏ thức ăn cho dế nào là lá cây dâu tằm và một số lá cỏ khác đặc biệt có một số hạt đậu phộng ngon thơm. Có lần ông nội tôi làm việc về mệt nửa đêm thức giấc nhưng khó bề chợp mắt trở lại giấc ngủ. Ông nghe thấy tiếng dế gáy khắp nơi trong nhà có nhiều tiếng gáy ngay ở trên đầu giường của chú tôi. Ông đã quá bực bội về chuyện này và đã đem cái hộp đựng dế của chú tôi dời đi chỗ khác và rốt cuộc những chú dế "chiến" đã về lại với đời sống tự do của chúng.

Nghe tiếng gáy hấp dẫn của những chú dế đá vang lên đó đây ở những bãi dâu xanh ngút ngàn trên bãi tôi dặn đứa em cứ tiếp tục cắt rau còn tôi men theo những bờ dâu đi thám thính để phát hiện nơi có đế gáy. Tôi hứa là sẽ cho em vài con dế than và vàng pha. Thật ra bắt dế ở bãi không khó khăn lắm. Người ta làm cỏ dâu và cả gốc bắp thu lượm còn sót đưa chúng vào sát gốc dâu ở từng đoạn. Chỉ cần xác định nơi có dế thí đến đó vạch đống cỏ khô lên là thấy ngay những chú dế lớn nhỏ trống mái. Tôi đã bắt được hơn chục con dế đá. Tôi lận chúng vào lưng quần đùi để một khoảng trống cần thiết cho nó khỏi chết. Do mất thời gian bắt dế nên rau muống cắt được không đạt yêu cầu. Đáng lý hai anh em phải cắt đầy một rổ lớn và cả rổ nhỏ nữa nhưng số lượng chỉ vỏn vẹn ở trong rổ lớn. Tôi lấy cái nhỏ đậy lên cái lớn để rau khỏi bay rơi xuống đất và đội rau về. Buổi chiều với những tia nắng nhẹ còn đọng trên bụi tre ở phía đầu ngõ nơi có buồng tằm của ông bà nội tôi. Cha tôi đỡ lấy cái rổ rau muống có phần hơi nhẹ trên đầu tôi xuống. Ông có nói sao mà hai anh em cắt cả buổi chiều mà được ít thế. Bỗng dưng lúc đó có tiếng dế gáy vang trong lưng quần của tôi. Ông lập tức phát hiện ra một điều không thể chấp nhận được: không chịu cắt rau mà mãi đi bắt dế. Ông bắt tôi giở áo lên để lồ lộ những cuộn nhỏ quanh bụng tôi chứa đầy dế đá. Cuối cùng ông bắt tôi thả dế hết ra và chịu một trận đòn có phần hơi nặng bằng roi dâu. Em tôi đứng lấm lét nhìn và không dám hé răng một lời nào.

Câu chuyện liên quan đến tôi và em tôi đi cắt rau muống là câu chuyện mãi về sau này chứ trước năm 1945 thì tôi và em tôi chưa hiện diện trên đời này.
Cách mạng mùa Thu năm 1945 thành công  Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á- xoá tan xiềng xích của một thời nô lệ mở ra một trang sử mới cho dân tộc. Đất nước ta được độc lập. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân ông của đất nước. Cái không khí phấn khởi sau khi nước nhà độc lập như vẫn còn lưu lại mãi mãi cho con cháu mai sau. Nhà văn Võ Quảng
  hình như đã trải qua những cảm xúc mạnh mẽ do cách mạng tháng Tám và nước nhà độc lập ở mùa thu năm xưa mang lại đã viết tác phẩm Quê Nội để đời. Đọc tác phẩm này có thể hình dung được một vùng quê yên bình bên dòng sông Thu Bồn trong thời khắc rộn vang của cuộc sống sau cuộc cách mạng đổi đời và khí thế hừng hực bảo vệ thành quả vừa giành được. Những câu chuyện về sinh hoạt thường ngày của người dân ở Hoà Phước những rạng sáng bình yên nghe rõ tiếng gà gáy ở từng chòm xóm mà có thể phân biệt đó là tiếng gà của nhà ai những mô tả về vạn chài Hoà Phước và cuộc hành trình của nhân vật Cù Lao xuống biển lên nguồn việc tập hợp lực lượng trai tráng để luyện tập quân sự ở cây Da Lý...

65 năm trôi qua là khoảng thời gian không phải ngắn so với một đời người. Những người dân ở quê tôi được tác giả Võ Quảng phản ánh trong tác phẩm Quê Nội đã lần lượt ra đi. Những  cảnh quan sau bao năm cũng đã đổi thay. Ngôi chợ chiều bến cấp ngày xưa nhộn nhịp ghe thuyền không còn nữa do dòng sông đã đổi hướng tiến ra xa. Nhưng cái đổi thay lớn nhất mà người dân quê tôi ai cũng thấy được đó là cuộc sống của họ. Nhà cửa khang trang. Ngày trước chỉ có mấy nếp nhà ngói của những gia đình giàu có đếm không hết trên năm đầu ngón tay. Nay hầu như nhà nào cũng xây cất cao ráo có người xây cả nhà tầng để ở và tránh lụt. Ti vi ra đi ô đầu máy... nhà nào cũng có. Xe máy các loại cũng thế. Đường sá đi lại được đổ bê tông đường lầy nước đọng trở thành những câu xa xưa. Đường nông thôn bây giờ cũng có biển cắm: "Chạy chậm. Nguy hiểm!" Trường học các cấp được mở rộng. Hằng năm trong làng có nhiều người đỗ vào đại học cao đẳng. Trước năm 1945 cả huyện to lớn Đại Lộc mà chỉ có hai trường tiểu học: Phú Hương (huyện lỵ cũ) và Mỹ Hoà (toạ lạc ở thôn Hoà Thạch tổng Mỹ Hoà). Trạm xá cấp xã được trang bị đầy đủ đáp ứng được việc khám và chữa trị ở cơ sở bệnh viện cấp huyện có đến vài cái nằm ở những khu vực khác nhau...

Viết về hôm qua và cả hôm nay mấy ai không khỏi bùi ngùi. Những thế hệ lần lượt nối tiếp nhau ra đi cho dòng đời mãi trôi về phía trước. Khi về làng cũ tôi có ghé lại đình làng. Trước sân chếch về phía bên tả của đình có một nhà bát giác. Nơi này  người làng đã dựng một tấm bia ghi lại tên tuổi của những người trong làng đã hy sinh vì quê hương đất nước. Đây chính là bằng chứng dòng chảy thời gian đã ngưng lại để dòng chảy lịch sử và truyền thống lên ngôi. Bỗng dưng tôi cảm nhận một điều: sức mạnh tiềm tàng của dân tộc không ở đâu xa mà ở ngay trong chính những làng quê nhỏ bé với những phong tục tập quán văn hoá lâu đời ắp đầy nhân nghĩa uống nước nhớ nguồn luôn ghi nhớ công ơn những người đã có công với làng với nước...


ĐN 02.9.2010.

N.U.T.



[1] Cơm trắng tức là cơm không có độn khoai hoặc sắn...

[2] Ở Quảng Nam thường nói là cơm "ghế" sắn khoai...

[3] Làm ruộng ăn cơm nằm chăn tằm ăn cơm đứng.