[ Chung
]
10 January, 2012 15:14
Khi em về... Thơ. Nguyễn Uyên Thu
KHI EM VỀ…
NGUYỄN UYÊN THU

Khi em về đứng bên bờ dĩ vãng
Ánh hoàng hôn cũng ngự trị đây rồi
Thoáng một cái tình muôn năm gãy cánh
Để ơ hờ thương con nước xa xôi
Khi em về lang thang trên ngõ vắng
Khói nhà ai lãng đãng áng mây trời
Ai mất hút cho vành môi biển mặn
Để bây giờ nhớ vật vã đơn côi
Khi em về nốt nhạc nào thêm quãng
Chợt vút cao chấp chới giữa dòng đời
Có tiếng hát nào chậm buồn trĩu nặng
Kéo hoàng hôn xa tít tắp chơi vơi…
N.U.T.
[ Chung
]
08 January, 2012 21:05
Đường phố tôi... Thơ. Nguyễn Uyên Thu
ĐƯỜNG PHỐ TÔI...
NGUYỄN UYÊN THU
Đường phố tôi không dài chẳng ngắn
Nằm vắt ngang theo trục tây đông
Nơi ngã ba đầu đường hai biển
Biển phố tôi mới gắn tên đường
Đường phố tôi xây theo dự án
Cả đường hơn sáu chục hộ dân
Về gốc gác chẳng cùng quê quán
Làm đủ nghề, vất vả gian nan
Nhưng thật lạ phong trào tự quản
Nhắc nhở nhau sống tốt phố phường
Từ vệ sinh môi trường cuộc sống
Đến giữ gìn trật tự trị an…
Đường thoáng đẹp cây xanh ngã bóng
Nhà nhà vui cuộc sống bình yên
Đường văn hóa thêm phần sống động
Muôn sắc màu hoa thắm xuân sang
N.U.T.
[ Chung
]
03 January, 2012 14:28
Đông tàn... Thơ. Nguyễn Uyên Thu
ĐÔNG TÀN…
NGUYỄN UYÊN THU

Hoang vu một nẻo tình sầu
Đông tàn gió cuốn đêm thâu não nùng
Lắng nghe nhạc vọng không trung
Lời ca thuở ấy chất chồng đau thương
Mấy mươi năm một chặng đường
Hợp tan tan hợp vấn vương bây giờ!
Ai đi xây mộng dựng mơ
Để cho ai mãi thẩn thờ đêm đông
Xót thương phận số nhỡ nhàng
Trách chi con tạo đa mang nỗi niềm
Hoa tàn cành cũng tan hoang
Sắc xuân lại đến bẽ bàng ngày xuân!
N.U.T.
[ Văn hóa
]
01 January, 2012 19:12
Bộ ấn vàng triều Nguyễn đang được lưu giữ ra sao?
Bộ ấn vàng triều Nguyễn đang được lưu giữ ra sao?
Kim Bảo Tỷ là ấn của nhà vua và hoàng triều dùng với ý nghĩa quốc gia trọng đại. Tại Bảo tàng Lịch sử hiện còn lưu giữ hàng chục Kim Bảo Tỷ các loại của 13 triều vua đời Nguyễn. Trong số này có những chiếc làm bằng vàng ròng nặng gần 10 kg với những đường nét điêu khắc tuyệt mỹ.
Tháng 8.1945, vua Bảo Đại khi thoái vị đã giao nộp cho chính quyền cách mạng kho báu vật triều đình Nguyễn được truyền qua nhiều đời. Trong số này phải kể đến hàng chục Kim Bảo Tỷ được làm bằng vàng và kim loại quý khác. Bộ Tài chính sau khi tiếp nhận số báu vật nói trên đến cuối năm 1959 bàn giao lại cho Bảo tàng Lịch sử lưu giữ.
| Ấn “ Hoàng đế tôn thân chi bảo” cả mặt trên và dưới
|
Vụ trộm hy hữu
Ngày 4.7.1961, nhân viên bảo tàng qua kiểm kê phát hiện sự việc tày trời là chiếc ấn vàng "Hoàng hậu chi bảo", vốn là ấn của Nam Phương hoàng hậu, nặng 4,9 kg và một âu đựng trầu bằng vàng nặng 0,5 kg tại phòng trưng bày đã không cánh mà bay. Trong lúc công an đang ráo riết điều tra thì đêm 5.1.1962, kẻ gian tiếp tục đột nhập vào bảo tàng, lấy một ấn bạc mạ vàng “Cao Đức Thái Hoàng thái hậu” và hai quyển kim sách làm bằng bạc mạ vàng.
| |
| Phạt tù kẻ trộm bảo vật Đầu năm 1964, Nguyễn Văn Thợi bị TAND TP.Hà Nội tuyên phạt án tù chung thân, 19 bị cáo khác liên quan bị phạt nhiều mức án nghiêm khắc về tội phá hoại di tích lịch sử, trộm cắp tài sản quốc gia và tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có. |
| |
Báu vật quốc gia bị mất trộm là điều không thể chấp nhận. Bộ trưởng Bộ Công an thời kỳ đó là ông Trần Quốc Hoàn chỉ đạo tung toàn bộ lực lượng tinh nhuệ của Bộ, phối hợp Công an Hà Nội bằng mọi giá điều tra, làm rõ vụ án thu hồi lại món đồ quốc bảo.
Sau nhiều tháng, vụ việc vẫn lâm vào bế tắc bởi các dấu vết kẻ gian để lại không nhiều. Tại hiện trường vụ trộm thứ hai, cơ quan công an thu được một số dấu vân tay trên tủ kính trưng bày nghi là của thủ phạm, nhưng không xác định được trong tàng thư. Một chỉ dấu khác được lực lượng công an đặc biệt chú ý là trong một căn phòng tối của bảo tàng có một số mảnh giấy ai đó đi vệ sinh bỏ lại. Ghép các mảnh giấy nói trên thể hiện là một bức thư từ một người tên là Đỗ Mộng Dần, gửi cho một người tên là Sửu. Trong thư nhắc đến một số người thân của Sửu có tên là Ất, Giáp, Mão. Vấn đề đặt ra ở đây là mảnh giấy do nghi phạm bỏ lại hay do một người khách tham quan nào đó do quá… bí đã lẻn vào đây phóng uế? Sau nhiều lần họp án, cơ quan công an quyết định mở rộng hướng điều tra truy tìm người có tên trong bức thư nói trên. Đến tháng 5.1962, công an xác định tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, có người tên là Đỗ Mộng Dần có các em là Ất, Giáp. Qua giám định xác định ông Dần đúng là người viết bức thư cho ông Đỗ Văn Sửu, là anh trai, nhà ở bến Nứa, Hà Nội. Xác minh tại nhà ông Sửu, cơ quan công an phát hiện thường có một người khách tên là Nguyễn Văn Thợi, có 17 tiền án về trộm cắp tài sản lai vãng. Điều đáng mừng là dấu vân tay phát hiện tại bảo tàng trùng với vân tay Thợi. Ngay sau khi bị bắt, Thợi cúi đầu khai nhận là thủ phạm đã gây ra 2 vụ trộm báu vật ở Bảo tàng Lịch sử.
Thủ đoạn của tên trộm liều lĩnh này là đóng giả khách tham quan, sau đó tìm cách nấp vào chỗ kín chờ cơ hội ra tay. Trong vụ trộm thứ hai, Thợi sau khi nấp vào chỗ tối chờ đợi thời cơ đã ăn hết một gói ô mai rồi phóng uế tại chỗ. Bức thư lấy ở nhà ông Sửu dùng để gói ô mai, Thợi xé ra làm giấy vệ sinh.
|  Ấn “Đại nam hiệp kỷ lịch chi bảo” đúc năm 1847 bằng vàng nặng 4,7 kg |
Khám xét tại nhà những người liên quan, công an thu được ấn bạc mạ vàng “Cao Đức Thái Hoàng thái hậu” còn nguyên vẹn. Riêng chiếc ấn vàng "Hoàng hậu chi bảo" đã bị chặt ra làm nhiều mảnh và đánh thành nhẫn, dây chuyền đi tiêu thụ nhiều nơi, công an chỉ thu lại được 33 lạng vàng ta mà các can phạm chưa kịp bán.
Căn phòng đặc biệt
Ông Nguyễn Quốc Bình, Trưởng phòng Trưng bày tuyên truyền của Bảo tàng Lịch sử, cho biết sau sự cố năm 1961, toàn bộ Kim Ngọc Bảo Tỷ cũng như báu vật triều Nguyễn được đưa đi gửi nơi khác. Đến năm 2007, bảo tàng được nhà nước cấp kinh phí để nâng cấp, xây dựng khu vực cất giữ, sau đó Chính phủ mới đồng ý giao lại toàn bộ kho báu cho bảo tàng. “Những năm trước do điều kiện khó khăn, bom đạn chiến tranh và cả về nhận thức nên mới xảy ra vụ việc đáng tiếc. Còn hiện nay chúng ta có thể an tâm vì vật quý được bảo tồn cất giữ đúng tầm”, ông Bình nói.
| |  Ấn là biểu tượng của đế quyền nên rất dễ thất lạc trong những cuộc binh biến can qua. Kết quả nghiên cứu của nhiều chuyên gia sử học, khảo cổ cho biết, việc lưu giữ được gần như đầy đủ bộ ấn triều Nguyễn là chuyện cực hiếm tại các quốc gia có chế độ quân chủ trên thế giới  |
| | Ông Nguyễn Quốc Bình, Trưởng phòng Trưng bày tuyên truyền của Bảo tàng Lịch sử |
Hiện kho báu đó đang nằm dưới một hầm ngầm, trong một căn phòng rộng khoảng 200m2, gọi là “căn phòng đặc biệt”. Căn phòng này được bao bọc bởi 4 bức tường đúc bằng bê tông khối đặc biệt, có chiều dày trên 1 m, cửa ra vào bằng thép khối điều khiển bằng cơ và điện tử, với công nghệ áp dụng như trong các ngân hàng ở Mỹ hay Thụy Sĩ. Phía bên ngoài hệ thống ngầm này luôn có một trung đội cảnh sát cơ động vũ trang túc trực thường xuyên, ngày cũng như đêm. Đấy là chưa kể một lực lượng bảo vệ khác hàng chục người thường xuyên tuần tra vòng trong.
Theo thống kê của bảo tàng, phần lớn Kim Bảo Tỷ triều Nguyễn được chế tác vào đầu thời Gia Long đến Đồng Khánh và được ghi chép lại trong chính sử. Trong thời gian tồn tại, triều Nguyễn cho làm hơn 100 chiếc ấn. Đến nay, ngoài chiếc bị mất cắp, Bảo tàng Lịch sử còn lưu giữ 85 chiếc. Ngoài ra, tại bảo tàng cổ vật cung đình Huế còn lưu giữ 8 chiếc khác được. Số ít còn lại có thể đang lưu lạc ở nước ngoài hoặc trong dân gian cơ quan chuyên môn chưa có điều kiện khảo sát.
Điều may mắn là trong bộ ấn kể trên, có 2 chiếc Kim Bảo Tỷ được lưu truyền từ đời chúa Nguyễn Phúc Chu có tuổi thọ hơn 300 năm. Chiếc ấn được coi là lớn nhất “Hoàng đế tôn thân chi bảo”, đúc vào năm 1827 bằng vàng (nặng gần 9 kg), kế đó là kim ấn “Sắc mệnh chi bảo”, cũng đúc bằng vàng (nặng khoảng 8,3 kg). Ngoài ra còn hàng chục chiếc có trọng lượng 4-5 kg bằng vàng và chất liệu quý khác với nhiều đường nét điêu khắc tinh xảo.
Theo ông Nguyễn Quốc Bình, đa số Kim Bảo Tỷ được đúc có hình rồng, biểu trưng cho đế quyền, với nhiều biến thế phong phú. “Ấn là biểu tượng của đế quyền nên rất dễ thất lạc trong những cuộc binh biến can qua. Kết quả nghiên cứu của nhiều chuyên gia sử học, khảo cổ cho biết, việc lưu giữ được gần như đầy đủ bộ ấn triều Nguyễn là chuyện cực hiếm tại các quốc gia có chế độ quân chủ trên thế giới”, ông Bình nói.
Mặc dù khẳng định giá trị không bàn cãi nhưng ngoại trừ các lần đưa ra trưng bày vào năm 1961, dịp đại lễ 1.000 Thăng Long, tính cho đến nay các ấn vàng chủ yếu... lưu kho bởi lý do an ninh.
Để đảm bảo an toàn cho báu vật quốc gia, đồng thời tạo điều kiện để công chúng tiếp cận, bảo tàng đã nhập các thiết bị trưng bày từ nước ngoài như tủ kính chống đạn. Tuy nhiên, kinh phí hạn hẹp nên số lượng ấn quý đem ra trưng bày mỗi lần cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
“Chúng tôi đang hy vọng trên cơ sở sáp nhập Bảo tàng Lịch sử và Bảo tàng Cách mạng thành Bảo tàng Lịch sử quốc gia VN thì tới đây nhà nước sẽ quan tâm đầu tư, lúc đó các Kim Bảo Tỷ được đưa ra trưng bày nhiều hơn, thỏa mãn được yêu cầu công chúng”, ông Bình nói.
Khổng Thủy
(thanhnien.com.vn/01.01.2012)
[ Tư liệu
]
01 January, 2012 17:46
Thêm bằng chứng Hoàng Sa là của Việt Nam
Thêm bằng chứng Hoàng Sa là của Việt Nam
Vào đúng ngày thầy giáo lão thành Thân Trọng Ninh vui mừng khi nhận được lẵng hoa mừng thầy thọ 90 tuổi của một học trò quê Quảng Ngãi, tôi được ông trao cho một tài liệu mà bà Yvette Amiot Thân Trọng - một cô dâu của họ Thân - từ Pháp vừa gửi về - một bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.
 |
| Bìa cuốn sách “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” (Nguyên bản tiếng Pháp, trong đó có thư của Khâm sứ Trung Kỳ…) do NXB L’ Harmattan in tại Paris năm 1996. |
Đó là lá thư (nguyên văn chữ Pháp) viết từ Huế ngày 23 tháng giêng năm 1929 của Khâm sứ Trung Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương (Hà Nội) liên quan tới quần đảo Hoàng Sa đăng trong cuốn sách “La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys” của tiến sĩ Monique Chemillier Gendreau (NXB L’ Harmattan, Paris, 1996). Ông Thân Trọng Ninh đã dịch lá thư và nội dung quan trọng nhất chúng ta đọc thấy dưới đây là một bằng chứng rằng quần đảo Hoàng Sa từ lâu đã thuộc về Việt Nam:
“… Trong quyển sách viết về “Địa lý Nam Kỳ” dịch ra tiếng Anh và đăng trong “Báo của Hội Châu Á xứ Bengale” năm 1838, Đức Ông Jean-Louis Taberd, giám mục xứ Isauropolis, giám mục tông tòa xứ Nam Kỳ, Cao Miên và Champa đã viết về việc vua Gia Long đã đem quân ra chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa năm 1816 và đã làm lễ thượng kỳ lá cờ Nam Kỳ một cách long trọng tại đó.
Tuy nhiên vẫn có sự nghi ngờ về tính xác thực của sự kiện chính vua Gia Long đã đích thân chỉ huy sự chiếm đóng quần đảo, nhưng sự chiếm đóng này là có thực và đã được khẳng định trong các biên niên ký của Chính phủ An Nam hay là “Đại Nam Nhất Thống Chí” quyển số 6, và “Nam Việt Địa Dư” quyển số 2, về địa lý nước An Nam xuất bản vào năm thứ 14 triều vua Minh Mạng và sau cùng trong “Đại Nam Nhất Thống Chí” quyển 6 về địa lý dưới triều vua Duy Tân.
Những tài liệu nói trên được lưu giữ tại các thư viện của Chính phủ An Nam đã cung cấp thêm cho chúng tôi nhiều chi tiết sau đây:
Trong những triều đại trước đây, một đội quân gồm 70 lính tuyển mộ trong dân chúng làng Vĩnh An đã được phái ra đóng đồn tại quần đảo Hoàng Sa, lấy tên là “Đội Hoàng Sa”; một đội khác mang tên “Đội Bắc Hải” được thành lập sau đó và được đặt dưới quyền chỉ huy của Đội Hoàng Sa….
Dưới triều vua Minh Mạng có nhiều phái bộ của Chính phủ được gửi ra nghiên cứu và khai thác tại quần đảo. Một phái bộ đã phát hiện một ngôi chùa cổ trong đó có ghi một dòng hàng chữ.
Năm 1838, nhà vua lại phái ra quần đảo một đội thợ xây cùng các nguyên vật liệu để xây dựng một ngôi chùa và một tấm bia nhằm đánh dấu kỷ niệm sự có mặt của họ đã đến đây…
Nhà nước được chúng ta bảo hộ đã khẳng định từ lâu đời chủ quyền của họ đối với quần đảo Hoàng Sa và ngài Thân Trọng Huề, nguyên là Thượng thư Bộ Binh, qua đời năm 1925, trong một bức thư đề ngày 3 tháng 3 năm ấy, đã viết “những hòn đảo này luôn luôn thuộc chủ quyền của nước An Nam, việc này không có gì để bàn cãi cả…”.
Đoạn tiếp theo nhấn mạnh vị trí quan trọng của quần đảo Hoàng Sa trong việc lưu thông và lập căn cứ quân sự để sử dụng khi tấn công đất liền.
Xin được lưu ý ông Thân Trọng Huề (1869-1925) là một trong những nhân vật nổi tiếng của dòng họ Thân danh giá mà tiêu biểu hơn cả là tiến sĩ Thân Nhân Trung, tác giả câu nói bất hủ đã được ghi trên một tấm bia tại Quốc Tử Giám (Hà Nội): “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Năm 2010, trong dịp kỷ niệm 1.000 năm họ Thân cũng tại Văn Miếu (Hà Nội), đã có bài viết nêu công lao của ông Thân Trọng Huề “đã buộc nhà đương cục Pháp phải ký vào văn kiện công nhận lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa” nhưng chưa có bằng chứng cụ thể.
Nay, với lá thư của Khâm sứ Trung Kỳ đã dẫn ở trên, việc đó mặc nhiên được xác nhận, đồng thời thêm một bằng chứng khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với Hoàng Sa.
Nguyễn Khắc Phê
(baodanang.vn/31.12.2011)
[ Truyện.Tản văn
]
01 January, 2012 13:57
Cuối năm về thăm làng... Nguyễn Uyên Thu
CUỐI NĂM VỀ THĂM LÀNG...
NGUYỄN UYÊN THU
Thỉnh thoảng tôi có về làng - nơi tôi đã sinh ra và lớn lên trong những ngày quê hương còn bao trùm binh lửa. Nhưng cuối năm về làng lại mang một sắc thái đặc biệt.
Sau mùa lụt lội hầu như vạn vật đều ở tư thế sẵn sàng chuẩn bị một sự dịch chuyển đầy khát vọng vươn lên. Đối với làng quê, các hoạt động liên quan đến nông nghiệp sau thời gian ẩn mình trước những cơn bão lũ dồn dập đã hiện ra như những chàng trai, cô gái đang độ xuân thì tuổi mười tám, đôi mươi đầy nhựa sống. Ở quê tôi, sau mùa lũ, các bãi trải dài dọc theo dòng sông Thu lặng lờ đã được phủ đầy một lớp phù sa màu mỡ. Người ta bảo, hàng năm lụt lội tàn phá mùa màng, gây nhiều thiệt hại của cải và cả sinh mạng của con người, nhưng nó cũng để lại những ưu ái cho con người bằng cách ban tặng họ những gì tốt đẹp nhất mà thiên nhiên có được. Sâu bọ cùng các loài gặm nhấm đã bị quét sạch. Đất đai lại càng thêm màu mỡ. Những hy vọng của một mùa bội thu được ươm mầm vươn cao theo nhịp đập của thời gian chuyển từ năm cũ sang năm mới tràn trề mơ ước.
Về quê trong những ngày cuối năm mới thấy hết mạch nhựa sống của dòng đời đang tuôn chảy tại đây. Người ta rủ nhau ra bãi ra đồng để dọn đất trồng tỉa. Người ta dùng mai có cán dài đào những hố nhỏ nhưng sâu đến mấy mét rồi đổ dầy “đất thịt” trộn đều với hỗn hợp phân chuồng…ngang bằng mặt đất. Những hố này thường để trồng dưa các loại, nhất là dưa hấu. Đất bãi còn được trồng các loại bắp (ngô), đậu (đỗ), ớt, thuốc lá… Trước đây, ở đất này người ta trồng dâu nuôi tằm lấy tơ dệt lụa. Có những cô gái xuân xanh vừa hái dâu vừa hát những bài dân ca mượt mà đầy ắp hương vị quê hương say đắm lòng người… Nhưng tằm tơ giờ đây ở quê tôi chỉ còn trong lời bài hát cũ: “Giả đò mang giỏ hái dâu, ghé qua thăm bậu nhức đầu khá chưa…”.
Gặp ai ở đâu, người ta cũng chào hỏi. Tình cảm con người ở làng quê giữa thời buổi kinh tế thị trường vẫn còn giữ được những nét truyền thống, chân chất, đáng yêu, đậm tình, đậm nghĩa… Nếu ai ở chốn thị thành nhiều bon chen, xô bồ, hối hả, những stress bủa vây tứ phía… cũng nên thỉnh thoảng về làng để tìm thấy sự thanh thản ít nhiều và nhất là thấy cuộc đời sao mà tươi đẹp đến thế!
Dòng sông hiền hòa ôm ấp làng tôi tự thuở nào vẫn mãi mãi là chứng nhân của bao sự đổi dời theo sự biến thiên của dòng lịch sử. Khi còn nhỏ, theo mẹ đến các chòm xóm khác nhau trong làng hay sang làng khác đều tạo cho tôi sự thích thú của một đứa trẻ con ưa khám phá thế giới xung quanh. Những địa danh, tên đất, tên làng… đều gợi cho tôi những cảm xúc mạnh mẽ. Dì tôi có chồng ở một làng cách không xa làng tôi lắm có tên là “Bù Nghè’ theo như cha mẹ tôi hay những người xung quanh gọi. Một làng nằm bên sông có tên là “Cù Bàn”, “La Tháp”. Một làng khác có tên là “Câu Nhí”, “Bất Nhị”… Những tên gọi đó, thú thật đối với một đứa trẻ 5. 7 tuổi như tôi hồi đó làm sao giải thích được ý nghĩa của nó. Sau này lớn lên tôi mới hiểu biết được phần nào. Lại có những tên làng cũ có từ cuối là “châu” cho ta biết sự hình thành của làng là do phù sa màu mỡ của dòng sông bồi đắp tạo nên. Làng tôi đã có tên gọi theo cấu trúc từ kiểu này mà trong cuốn Phủ Biên Tạp Lục của cụ Lê Quý Đôn ở thế kỷ XVIII có ghi. Đất bãi bồi, đất “ba châu” thường trồng các loại hoa màu (người Quảng trước đây thường nói trại là “ba” màu). Mỗi địa danh, tên đất, tên làng… đều hàm chứa biết bao ý nghĩa, đầy ắp những giá trị văn hóa trong đó. Thế nhưng có lúc, có nơi người ta đã gạt phăng đi tên làng cũ để thay vào đó là số thứ tự (1,2,3…) nghe nhạt nhẽo làm sao! Cũng may sau đó theo dòng chảy của sự phục hồi các giá trị văn hóa mà tiền nhân đẻ lại, nhiều tên làng được gọi lại như trước nghe ngọt ngào, ý vị biết bao! Đó là chuyện ở một số địa phương khác mà tôi biết được chứ làng tôi bao đời nay vẫn cứ gọi tên theo ông bà để lại.
Về mặt thiết chế, văn hóa làng được thể hiện ở các công trình văn hóa như đình, chùa, miếu… trong đó, đình làng luôn giữ vị trí quan trọng bậc nhất. Đình là nơi thờ thần thành hoàng của làng, là nơi họp hội của toàn thể dân làng, là nơi thực thi các công việc liên quan đến việc nước, việc làng. Tiếng trống làng đã chi phối hầu như mọi hoạt động ở làng. Tiếng trống ngũ liên thúc giục luôn là nỗi ám ảnh đối với những người chân lấm tay bùn của một thuở xa xưa giống như trong các câu chuyện cổ tích. Đọc tác phâm Tắt đèn của Ngô Tất Tố có thể hình dung ra ít nhiều về tiếng trống giục giã ở các làng xã dưới ách thực dân phong kiến trước 1945 như thế nào. Đình ở chốn làng quê chính là nơi tập trung các hoạt động văn hóa trong những ngày lễ tết, các dịp hội hè. Ngày trước thì thế nhưng bây giờ đã khác nhiều rồi.
Sau cơn binh lửa, mọi thứ đều bắt đầu trở lại. Ngôi đình làng đã được dân làng xây mới, có sự tham gia đóng góp của con dân từ làng ra đi và ở lại nơi đất khách quê người, làm ăn khá giả và luôn nghĩ về làng cũ nơi cha ông mình đã sinh ra và lớn lên tại đây. Mỗi gia đình trong làng lúc ấy, không kể tiền đóng góp phải tự gánh đắp hai khối đất vào nền đình. Làng đã cho người phát quang dọn cỏ, lấy mặt bằng ở vạt đất dưới bực phía ngoài bờ tre trước đình, cách xa cũng năm, bảy chục mét và bước lên một con dốc ngắn thoai thoải ở trước đình để các gia đình đào hố lấy đất gánh vào. Tôi là con lớn nên phải đảm nhận việc gánh đất đắp nền. Hồi đó là thanh niên sức khỏe cũng không đến nỗi nào, tôi thực hiện trong một buổi là xong. Nền được đắp phải qua nhiều năm, qua bao mùa lũ lụt và sau nhiều đợt họp hành, vận động gom góp tiền bạc, ngôi đình đã bắt đầu xây dựng với quy mô lớn. Bấy giờ tôi đã đi công tác ở phương trời xa. Đến khi khánh thành đình tôi mới có dịp về thăm bản quán.
Ban đầu chỉ xây dựng ngôi đình làm nơi thờ thần bảo hộ của làng. Về sau lại xây thêm một số công trình khác như nhà văn hóa, các công trình có tính chất tạo cảnh quan…Đặc biệt trong đó có lầu bát giác bài trí bàn hương án và hai tấm bia khắc tên những người con của dân làng đã hy sinh vì quê hương đất nước qua các thời kỳ chống thực dân đế quốc. Đó là những người thuộc thế hệ cha ông và cả những người cùng thế hệ chúng tôi. Sự ghi nhận của làng như vậy, của các thế hệ hiện tại đối với các thế hệ đi trước đã đổ bao mồ hôi xương máu góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc là cách ứng xử văn hóa rất đáng trân trọng cần phải giữ gìn và phát huy.
Mỗi lần có dịp về quê đi ngang đình, tôi thường dừng lại ghé vào lầu bát giác nơi có các tấm bia đá dựng lên tại đây.
Cuối năm, về làng thăm các cánh đồng, các bãi ven sông phù sa màu mỡ, thăm xóm làng ngày càng đông đúc; ghé lại đình làng có lầu bát giác để thắp vài nén nhang hương tỏa nhẹ nhàng trong buổi chiều cuối đông lạnh căm… mà sao lòng tôi lại cảm thấy ấm áp lạ thường. Có lẽ quê hương làng xóm là một phần cuộc sống của tôi…
N.U.T.
[ Chung
]
01 January, 2012 10:48
Gửi em... Thơ. Trầm Hương
GỬI EM…
TRẦM HƯƠNG

Chị viết những dòng thơ này gửi em
Nhưng chắc gì em đọc được
Bởi bận bịu suốt ngày từ sáng chưa bảnh mắt
Đến tối về lại nhiều nỗi lo toan
***
Chị cũng biết em đau thập tử nhất sinh
Hơn tháng nằm nghe cuộc đời khô khốc
Khi dò dẫm ra đường điều gì cũng khác
Cả cơn nắng nhẹ vương của buổi thu vàng
***
Có lẽ chị cũng như em
Qua tháng ngày đời bao trùm xoáy lốc
Để lại cho ta những điều thua thiệt
Phận số níu chân cay xé cõi lòng
***
Chị gửi cho em một chút nắng hanh
Còn rơi rớt ngoài hành lang bệnh viện
Buổi cuối đông rét về ngọt lịm
Bên hiên đời gió mãi cuốn chiều tàn…!
T.H.
[ Truyện.Tản văn
]
01 January, 2012 10:18
Cơ sở sửa chữa tàu thuyền ở một vùng quê.... Nguyễn Vũ
CƠ SỞ SỬA CHỮA TÀU THUYỀN Ở MỘT VÙNG QUÊ…
NGUYỄN VŨ
Đến Duy Nghĩa (Duy Xuyên, Quảng Nam) trong những ngày mùa Đông tháng giá vẫn thấy ấm áp lòng người bởi sự mến khách và dòng đời tại đây vẫn theo nhịp chảy tuôn trào.
Cách không xa bến sông Thuận An đông đúc người qua kẻ lại hàng ngày, cơ sở sửa chữa tàu thuyền của anh Lê Văn Lưu (1967) cũng nhộn nhịp không kém. Có cả chục chiếc thuyền tạm thời rời sông nước, biển cả nằm im trên đà để chờ sửa chữa.
Chúng tôi gặp cả hai vợ chồng anh tại cơ sở sửa chữa tàu thuyền của chính mình tạo lập Trước năm 1975, anh Lưu còn nhỏ, sống tại khu dồn Xuyên Thọ. Sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng có truyền thống cách mạng. Cha là liệt sĩ, hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ác liệt (1969). Mẹ làm nông, một nách nhiều con nên cuộc sống đầy khó khăn vất vả. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, quê hương ngày càng thay da đổi thịt. Anh Lưu học ở bậc phổ thông, nhưng hoàn cảnh khó khăn nên anh phải nghỉ học nửa chừng và chuyển sang học nghề thợ mộc suốt 4, 5 năm trời. Sau đó đi làm thuê, ai kêu gì làm nấy, nhưng thu nhập ít và không ổn định.
Một buổi sáng ra bờ sông Thu Bồn, thấy bến Thuận An tàu thuyền đậu san sát. Anh nảy sinh ra ý tưởng là tại sao không hình thành một cơ sở sửa chữa tàu thuyền phục vụ bà con tại địa phương. Thế là anh bắt tay vào việc.
Vốn đầu tư ban đầu ít ra cũng cả trăm triệu đồng, làm sao anh Lưu có được? Với tính thật thà, chất phác nhưng tính toán có phần căn cơ, anh Lưu đã mạnh dạn dồn vốn ít ỏi của gia đình mình, đồng thời vay ngân hàng… để đầu tư cơ sở sửa chữa tàu thuyền.
Những ngày mới thành lập, cơ sở còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Đồ nghề chỉ vỏn vẹn có 4 cái kít, loại nâng được 35 tấn. Các loại xà beng lớn nhỏ độ vài chục cái… Chủ tàu thuyền đem thuyền đến sửa chữa phải tự mua cây (gỗ). Tại đây chỉ sửa chữa lấy tiền công.
Cơ sở sở sửa chữa tàu thuyền Thuận An ở Duy Nghĩa do anh anh Lưu gầy dựng, hình thành từ đầu năm 2003. Qua quá trình 8 năm hoạt động, cơ sở này ngày càng lớn mạnh, uy tín ngày càng nâng cao. Năng lực của cơ sở đến nay có thể đảm đương sửa chữa các loại tàu thuyền từ 20 sức ngựa đến các loại tàu có công suất máy 3 (chừng 300 sức ngựa). Hàng năm cơ sở thu hút khoảng 100 tàu thuyền đến đây sửa chữa. Trung tu khoảng vài chục chiếc. Còn lại là sửa chữa nhỏ.

Anh Lê Văn Lưu bên những chiếc thuyền chờ sửa chữa. Ảnh: N.V.
Tổng thu nhập của cơ sở lên đến hàng trăm triệu đồng. Điều đặc biệt là cơ sở sửa chữa này đã tạo công ăn việc làm thường xuyên cho khoảng 25 người, thu nhập bình quân trên 3 triệu đồng/tháng.
Anh Lưu còn cho biết cụ thể: Lương thấp nhất trên 3 triệu đồng, cao nhất trên 4 triệu. Đó là chưa kể ăn uống hai bữa, mỗi bữa khoảng 15.000 đồng….Việc đóng góp vào các phong trào ở địa phương nhân các ngày lễ tết hàng năm cũng được cơ sở chú trọng và thực hiện chu đáo.
Mặc dù cơ sở sửa chữa tàu thuyền ở bến Thuận An chưa phải là lớn so với các cơ sở khác ở tỉnh Quảng Nam, nhưng quả thực nó mang nhiều ý nghĩa to lớn đối với bản thân, gia đình anh Lê Văn Lưu cũng như vùng quê Duy Nghĩa đầy ắp nghĩa tình của anh…
14.12.2011
N.V.
[ Xã hội
]
17 November, 2011 23:03
'Luật biểu tình sẽ có tác dụng tích cực cho xã hội'
'Luật biểu tình sẽ có tác dụng tích cực cho xã hội'
"Quyền biểu tình không chỉ là nhu cầu thực tiễn của xã hội mà gần như là chuẩn mực của thế giới về quyền tự do. Nếu có Luật biểu tình, tôi nghĩ sẽ có tác dụng tích cực cho xã hội", đại biểu Dương Trung Quốc trao đổi với báo chí.
> Hà Nội yêu cầu chấm dứt biểu tình tự phát
Sáng 17/11, khi thảo luận về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ khóa 13, vấn đề có nên xây dựng Luật biểu tình đã trở thành chủ đề nóng, với những quan điểm trái chiều. Trong giờ nghỉ, đại biểu Dương Trung Quốc đã có cuộc trao đổi với báo giới.
- Tại sao thời điểm này chúng ta cần phải xây dựng Luật biểu tình?
- Hàng năm chúng ta nghỉ ngày 1/5, đó là kết quả cuộc biểu tình ở Chicago (Mỹ) cách đây hơn một thế kỷ. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, ngày 1/5/1958 có biểu tình đòi tự do, cơm áo, hòa bình.
Hai tuần sau khi giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh về quyền biểu tình mà theo giải thích, quyền hội họp của người dân là quyền rất cơ bản. Hiến pháp năm 1946 được cụ thể hóa bằng quyền tự do hội họp và hội họp cũng có nội hàm là biểu tình. Hiến pháp năm 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện cũng có hẳn một chữ "quyền được biểu tình". Cho nên phải nhìn Luật biểu tình cả hai mặt chứ không thể nói một chiều.
Nếu có quy định biểu tình phải đúng nơi, đúng chỗ, đúng giờ, đúng mục đích thì sắp xếp trật tự xã hội mới thuận lợi, hiện nay chúng ta chưa có luật nên mới tùy tiện, làm ảnh hưởng chung. Chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng chủ động nêu vấn đề luật biểu tình cần phải đưa vào chương trình xây dựng luật.
 |
| Đại biểu Dương Trung Quốc: "Nếu loại quyền tự do này ra khỏi hiến pháp thì chúng ta trở thành bất bình thường". Ảnh: Hoàng Hà. |
- Tại nghị trường, nhiều đại biểu cho rằng chưa cần thiết xây dựng luật biểu tình và cũng không nên coi luật này là thước đo tự do dân chủ. Ông nói gì về quan điểm trên?
- Quyền biểu tình không chỉ là nhu cầu thực tiễn của xã hội mà nó gần như là chuẩn mực của thế giới về quyền tự do con người tức là quyền hội họp, trong đó có quyền biểu tình. Nếu loại quyền tự do này ra khỏi hiến pháp thì chúng ta trở thành bất bình thường.
Nếu chúng ta bên cạnh việc nâng cao hơn nữa việc quản lý bộ máy công quyền cộng với việc có Luật biểu tình thì tôi nghĩ sẽ có tác dụng tích cực cho xã hội.
- Thưa ông, ở nhiều nước có hành lang pháp lý cho biểu tình nhưng sau đó lại bị biến tướng thành bạo loạn. Ông nhìn nhận vấn đề này ra sao?
- Sự biến tướng bao giờ cũng có và luật nào cũng có sự lách luật, vấn đề. Theo tôi, cách tốt nhất là nhà nước hãy chứng tỏ năng lực để cho người dân biểu tình ủng hộ nhiều hơn biểu tình phản đối. Ví dụ, biểu tình phản đối hiện tượng tham nhũng có thể chĩa vào những cán bộ nhà nước nhưng nó lại phục vụ Chính phủ có bằng chứng thuyết phục nhất.
Tôi còn nhớ những năm 1980, khi hiện tượng diễn ra ở nông thôn Thái Bình mà nếu theo cách nhìn của các đại biểu thì gọi là bạo loạn. Nhưng lúc đó Đảng rất tỉnh táo, các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng đến tận nơi và phát hiện ra cả hai mặt. Mặt tiêu cực là thiếu tổ chức dẫn đến tình trạng hỗn loạn nhưng mặt tích cực là góp phần phát hiện những sai sót, yếu kém trong bộ máy chính quyền địa phương và nhờ thế đã có điều chỉnh cả hai mặt.
 |
| Ông Dương Trung Quốc từng nhiều lần phát biểu về Luật biểu tình. Ảnh: Tiến Dũng. |
- Theo ông, luật biểu tình nên giao cho cơ quan nào soạn thảo sẽ đảm bảo sự khách quan?
- Với bộ luật có tính chất nhạy cảm này, sự có mặt của Bộ Công an là cần thiết nhưng nên có sự phối hợp của các tổ chức xã hội, đặc biệt là Mặt trận Tổ quốc nhằm đảm bảo quyền lợi của người dân. Ngoài ra, có rất nhiều tổ chức xã hội có thể tham gia như Hội Luật gia Việt Nam. Bộ Công an đứng ra chủ trì xây dựng, tôi cho là được vì cuối cùng còn phụ thuộc vào quyết định của chính các đại biểu Quốc hội.
| Sáng nay, tại hội trường, đại biểu Hoàng Hữu Phước (TP HCM) cho rằng cần loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi chương trình xây dựng luật, pháp lệnh vì đa số công dân sẽ không ủng hộ dự luật này. "Luật biểu tình nói mãi như thể đó là khuôn vàng thước ngọc để đo chiều dài, chiều rộng, chiều sâu của cái gọi là tự do dân chủ. Như vậy, Quốc hội có nên dành ra 2 năm và bao tiền của nhân dân để soạn ra dự án luật mít tinh, luật tuần hành hay không?", đại biểu Phước đặt vấn đề. "Có ý kiến nói rằng ở nước ngoài người ta biểu tình đàng hoàng nên Việt Nam cũng sẽ làm được. Thưa, ở Việt Nam hiện nay đã có 100% đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy chưa? Có chấm dứt chen lấn nơi công cộng chưa? Có tham gia giao thông đúng luật chưa?", vị giám đốc doanh nghiệp này đặt câu hỏi. Và để trả lời cho câu hỏi này, ông Phước cho hay, cuộc biểu tình tháng 8 vừa qua tại London lan ra nhiều thành phố khác đã biến thành bạo loạn, cướp bóc, đốt nhà, làm ô danh đất nước. Rồi cuộc biểu tình chiếm phố Wall tại New York và nhiều thành phố lớn của Mỹ cũng gây ra tình trạng bẩn thỉu, ẩu đả, trộm cắp và hiếp dâm. |
Tiến Dũng ghi
(vnexpress.net/17.11.2011)
[ Chung
]
04 November, 2011 19:21
Bài văn bóng đá sẽ dài thêm... Thơ. Nguyễn Uyên Thu
BÀI VĂN
BÓNG ĐÁ
SẼ DÀI THÊM…
NGUYỄN UYÊN THU
![]()
Hoàng Thiên ăn mừng bàn nâng tỷ số
lên 2-1 cho U.23 VN – Ảnh: Bạch Dương.
Cũng lâu rồi dòng đời trống vắng
Nụ cười tươi bên cánh thiên thần
Nửa đời người tóc đà bạc trắng
Mà chỉ nghe tiếng vọng xa xăm
Bài văn xưa ai từng nhất bảng
Thầy đọc cho cả lớp nghe chung
Merdeka [1] vô cùng sống động
Bóng đá lăn hào sảng cha ông
Anh tài đến nhiều nơi tỏa sáng
Nhật, Thái, Hàn, Miến, Ấn, Hồng Công…
Ai cũng muốn chiếm ngôi vô địch
Nhưng cúp vàng về với…Việt Nam[2]
Bốn hai năm lại giành chiến thắng
Cúp Merdeka danh giá ngàn vàng
Cả nước vỡ òa dòng xúc động
Dài thêm bài văn cũ ai làm…
Nay SEA Games về trong cuộc sống
Trận đầu tiên thắng lợi rỡ ràng
Bởi tưởng đâu gặp thành đá cứng
Nhưng làm nên chiến thắng ngược dòng
Trái bóng tròn vẫn lăn nhiều quãng
Bao tài năng còn ráng đua tranh
Người Việt Nam chờ mong vui đến
Bài văn xưa sẽ viết thêm dòng…
N.U.T.
[1]. Sân vận động Merdeka ở thủ đô Kuala Lumpur (Malaysia) nơi diễn ra trận chung kết giải Merdeka lần thứ 10 (1966), giữa đội bóng miền Nam.lúc đó với Miến Điện (nay là Myanmar). Giải Merdeka (có người còn gọi là Cúp Độc lập hay Cúp Quốc khánh Malaysia) nặng ký hơn nhiều so với SEAP Games (nay là SEA Games) bởi nó giống như một giải châu Á thu nhỏ. Merdeka 1966 có 12 đội tham dự, trong đó có các đội mạnh như Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan, Hong Kong (đội tuyển trước đó vài năm đã có một thời lừng lẫy ở châu Á với “túc cầu đại vương” Lý Huệ Đường)…
[2]. Tham dự giải Merdeka 1966 có đội tuyển bóng đá Nam Việt Nam, vượt qua bao anh tài để vào chung kết với Miến Điện (nay là Myanmar) và thắng 1-0.
[ Chung
]
14 October, 2011 10:27
Lặng lẽ xa xôi...! Thơ. Nguyễn Uyên Thu
LẶNG LẼ XA XÔI…!
NGUYỄN UYÊN THU

Vào cuối thu xám trời xám đất
Lũ tràn về thất bát nhiều nơi
Ta lẳng lặng đếm bao mùa lụt
Bóng hình nào mất hút… xa xôi
Thu mấy bận xanh trong mắt biếc
Pha loãng cùng sương khói chơi vơi
Em vẫn cứ phương nào biền biệt
Để cho đời chồng chất men cay
Mùa thu nào sắc màu đậm nhạt
Nên ta còn mãi trắng đôi tay
Bao mật ngọt chẳng là suối mát
Nên ta thành hoang mạc…lắt lay…
Cuối mùa thu trải dài con nước
Sao vẫn còn lặng lẽ… xa xôi…!
N.U.T.
[ Chung
]
25 September, 2011 13:54
Đến mùa lũ lụt... Thơ.Nguyễn Uyên Thu
ĐẾN MÙA LŨ LỤT…
NGUYỄN UYÊN THU

Mưa dồn dập cả ngày liền tối
Lượng mưa cao trắng đất trắng trời
Trên diện rộng Quảng Bình – Quảng Ngãi
Kon Tum gần – Đắk Nông xa xôi…
Con nước lũ đã tràn lên bãi
Băng qua đồng ngập lúa, sắn khoai
Một số nơi dân đua cùng lũ
Dìu lúa về ở sát cùng người…
Có những nơi lở đồi sụt núi
Nước dâng cao cô lập bên ngoài
Lũ lụt nhanh mọi người chống chọi
Để bớt đi bao nỗi thiệt thòi
Đất miền Trung năm nào cũng vậy
Bão đi qua, áp thấp lại rồi…
Gây mưa lụt trắng trời trắng đất
Phận dân nghèo bao nỗi đắng cay…!
N.U.T.
[ Chung
]
24 September, 2011 11:53
Hoàng hôn phố biển... Thơ. Tăng Chánh Tín
HOÀNG HÔN
PHỐ BIỂN…
TĂNG CHÁNH TÍN

Hoàng hôn phố biển sầu trong mắt
Khe khẽ ai về lối sỏi quen
Người đi sương khói còn xa lắc
Nỗi nhớ chông chênh phố nhuộm đèn
Tà dương vội tắt ngàn thu biệt
Tóc mây một thuở hóa tơ ngàn
Bóng người đã khuất còn vương tiếng
Loang lổ chiều buồn ai lang thang !
T.C.T
[ Chung
]
16 September, 2011 09:57
Hoàng hôn loang lổ... Thơ. Nguyễn Uyên Thu
HOÀNG HÔN
LOANG LỔ…
NGUYỄN UYÊN THU

Bao năm lận đận nơi phương xa
Xanh tóc chừ đây hóa thành ngà
Ốm đau mấy trận càng thêm đắng
Mạnh khỏe nhiều phen phải lấy đà
Nhớ lắm thu về nơi phố biển
Thương hoài hạ đến chốn quê nhà
Tiếng cười vui vẻ ngày xưa vắng
Hoàng hôn loang lổ… chiều thướt tha.
N.U.T.
[ Chung
]
01 September, 2011 02:27
Tâm sự chiếc áo mưa. Thơ. Hoàng Phúc
TÂM SỰ CHIẾC ÁO MƯA
HOÀNG PHÚC
![alt src=http://nguyenuyenthu.vnweblogs.com/gallery/10044/am2.jpg]()
Mưa lại đến người cần chiếc áo
Áo đi mưa chỉ có ích khi mưa
Áo theo người mỗi sáng mỗi trưa
Như người bạn ân cần che chở
Ấm áp ngược xuôi là từ muôn thưở
Áo được cách tân cách điệu đã nhiều
Đến bây giờ áo rất đẹp dễ yêu
Xanh, tím, nâu, vàng, đỏ trắng
Rồi một hôm sớm mai đầy nắng
Áo đi mưa nay bị lãng quên rồi
Chẳng còn ai nhớ áo mưa ơi!
Lặng lẽ quạnh hiu áo nằm ngăn tủ
Nỗi cô đơn bây giờ không chủ
Không còn cùng ai mỗi sáng đi về
Giống phận người có lúc tái tê
Cũng chôn kín nỗi buồn không có tuổi
24/08/2011
H.P.